Trang TTĐT Sở NN&PTNT Nghệ An

thông tin chi tiết

  • Một số vấn đề Quản lý chất lượng trong sản xuất và chế biến chè tại Nghệ An
    12/11/2012 08:22
  • Là một địa phương không có nhiều lợi thế về đất đai, khí hậu để phát triển cây chè nhưng Nghệ An lại là địa phương có diện tích chè vào loại lớn của cả nước.
  •  Đến nay Nghệ An đã xây dựng được vùng nguyên liệu chè công nghiệp với diện tích hơn 8.000 ha trong đó diện tích chè kinh doanh hơn 6.000 ha. Sản lượng chế biến hàng năm đạt 9-10 ngàn tấn trong đó xuất khẩu từ 5-6 ngàn tấn đạt kim ngạch trên 7 triệu USD. Có thể nói trong các sản phẩm xuất khẩu của Nghệ An thì chè khô là sản phẩm mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn nhất, ổn định nhất. Tuy nhiên, một thực tế đã tồn tại khá lâu: Chè Nghệ An chưa thật sự có thương hiệu cho riêng mình. Điều này dẫn đến hệ quả tất yếu: Sản lượng xuất khẩu nhiều nhưng giá thành và lợi nhuận thu về không đáng kể. Hơn thế nữa, các tỉnh thành hay các quốc gia làm thương hiệu nông sản nổi tiếng tốt hơn sẽ hưởng lợi từ quá trình này. Họ không cần phải sản xuất nhiều, mà chỉ việc nhập nguyên liệu từ Nghệ An, đóng nhãn mác, thương hiệu vào và thu lại phần lớn lợi nhuận.

     

    Trong bối cảnh các nước ngày càng dựng lên nhiều hàng rào kỹ thuật để bảo hộ nền sản xuất trong nước và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, thìchất lượng sản phẩm là một yếu tố quan trọng để cạnh tranh không những trên thị trường thế giới mà ngay cả thị trường nội địa. Vì thế chúng ta “cần vạch ra chiến lược xây dựng thương hiệu toàn diện”, nhưng trước khi nghĩ đếnvấn đề xây dựng thương hiệu chúng ta cần kiểm soát được chất lượng VSATTP các sản phẩm chè. Qua nghiên cứu và thực hiện vấn đề quản lý chất lượng VSATTP trong sản xuất và chế biến chè, chúng tôi có một vài suy nghĩ như sau:

     

    Thứ nhất: đẩy mạnh việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn ISO 9000 phiên bản 2000 để đáp ứng yêu cầu của khách hàng nhằm duy trì và phát triển thị trường xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp chưa qua chế biến hay đã qua chế biến

     

    ISO 9000 là hệ thống đảm bảo chất lượng xuyên suốt từ thiết kế, sản xuất, lắp đặt, dịch vụ... được tiêu chuẩn hoá và tư liệu hóa triệt để.

     

    Theo yêu cầu của tiêu chuẩn ISO 9001:2000, việc thiết lập, thực hiện, lập văn bản và duy trì hệ thống quản lý chất lượng, tổ chức phải xác định được yêu cầu của khách hàng và đáp ứng các yêu cầu này để nâng cao sự thỏa mãn của khách hàng. Trong "mô hình hệ thống quản lý chất lượng dựa trên cách tiếp cận theo quá trình", đầu vào của quá trình kinh doanh của tổ chức là yêu cầu của khách hàng và đầu ra của quá trình là thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Việc áp dụng ISO 9001:2000, đòi hỏi doanh nghiệp phải năng động hơn để có thể xác định được yêu cầu và mong đợi của khách hàng và tìm cách cải tiến để thoả mãn yêu cầu và mong đợi đó thông qua việc phân tích và đo lường sự thỏa mãn của khách hàng một cách đúng đắn và xác thực. Việc xác định yêu cầu và mong đợi của khách hàng sẽ giúp cho doanh nghiệp biết được mình nên sản xuất cái gì và không nên sản xuất cái gì hay nói theo ngành nông nghiệp là chúng ta nên trồng cây gì và nuôi con gì chứ không phải chỉ biết trồng và nuôi theo cảm nhận chủ quan của mình hay theo phong trào mà không cần biết có thỏa mãn khách hàng hay không. Chính vì thế việc đẩy mạnh việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng cho các tổ chức sản xuất - kinh doanh các sản phẩm chè nói riêng và sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu nói chung là cần thiết để có thể giải quyết vấn đề đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp của chúng ta.

     

    Thứ hai: Áp dụng hệ thống HACCP để đảm bảo an toàn và vệ sinh thực phẩm

     

    Chúng ta vẫn còn nhớ như inviệc một số nông dân đã trộn bùn, phân lân vào chè khô (hay còn gọi là trà khô) để được tăng khối lượng và mẫu mã đẹp. Những người nông dân đã chất phác khi trả lời phỏng vấn rằng mình làm như vậy là do khách hàng ở nước láng giềng yêu cầu. Người mua dùng chè đó để uống hay sử dụng vào mục đích nào thì đó vẫn là quyền của người mua. Người bán có lãi thì làm. Không ai biết sự việc bắt đầu từ khi nào? Và nguyên do là từ đâu? Chỉ biết rằng thương hiệu về sản phẩm chè nói riêng và nông sản Việt Nam nói chung đã và đang bị ảnh hưởng một cách nghiêm trọng.

     

    Qua đó chúng ta mới thấy rằng vấn đề quản lý chất lượng sản phẩm để đảm bảo vệ sinh và an toàn thực phẩm là vấn đề hết sức quan trọng. Chúng ta đừng vì lợi ích trước mắt để rồi phải hứng chịu một bài học quá đắt giá. Để chuẩn bị tốt cho thị trường xuất khẩu chè nói riêng và các sản phẩm nông nghiệp nói chung, chúng ta cần đẩy mạnh việc áp dụng HACCP.

     

    HACCP là viết tắt của từ Hazard Analysis and Critical Control Points, có nghĩa là Phân Tích Mối Nguy Và Điểm Kiểm Soát Tới Hạn. HACCP là phương pháp tiếp cận có tính khoa học, hợp lý và có tính hệ thống cho việc nhận biết, xác định và kiểm soát mối nguy trong sản xuất thực phẩm để đảm bảo an toàn khi tiêu dùng. Hệ thống HACCP đòi hỏi phải kiểm soát phải bắt đầu từ cơ sở sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng. Tại nông trường, trang trại trồng trọt hay chăn nuôi cần phải tiến hành các hoạt động ngăn ngừa sự mất vệ sinh an toàn thực phẩm như kiểm tra qui trình phun thuốc trừ sâu, kiểm tra thức ăn cho vật nuôi, bảo vệ hệ thống vệ sinh nông trường, tạo thói quen quản lý tốt thực phẩm hay sức khỏe vật nuôi. Tại nơi sản xuất phải ngăn chặn sự nhiễm bẩn trong suốt quá trình chế biến. Trong khâu lưu thông phải đảm bảo kiểm soát vệ sinh tại địa điểm chuyên chở, cất giữ và phân phối.

     

    Có 7 nguyên tắc cơ bản dùng cho việc áp dụng HACCP là :

     

    1/ Tiến hành phân tích những mối nguy. Những mối nguy ở đây có thể xuất phát từ sinh vật như vi khuẩn, vi trùng, côn trùng gây hại; có thể là các tạp chất như đá, sỏi, mảnh vỡ của thủy tinh hay xuất phát từ hóa học như dư lượng thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ...

     

    2/ Xác định những điểm kiểm soát trọng yếu – mỗi điểm kiểm soát trọng yếu là một bước mà việc kiểm soát có thể áp dụng và cần thiết để ngăn chặn hoặc loại trừ một mối nguy an toàn thực phẩm hay giữ nó đến mức độ cần thiết.

     

    3/ Thiết lập một ranh giới tới hạn (một ranh giới tới hạn là một tiêu chí cần phải phù hợp cho mỗi điểm kiểm soát trọng yếu).

     

    4/ Thiết lập một hệ thống kiểm soát các điểm kiểm soát trọng yếu.

     

    5/ Tiến hành các hành động khắc phục khi hệ thống kiểm soát phát hiện một điểm kiểm soát trọng yếu nào đó không nằm dưới sự kiểm soát.

     

    6/ Thiết lập những qui trình xác nhận nhằm bảo đảm hệ thống HACCP đang làm việc hiệu quả.

     

    7/ Thiết lập tài liệu dẫn chứng liên quan đến tất cả các thủ tục và các hồ sơ phù hợp với những nguyên tắc này và việc áp dụng chúng.

     

    Hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh đã có 2 đơn vị cam kết thực hiện triển khai xây dựng hệ thống QLCL theo HACCP trong sản xuất, chế biếnchè. Tuy nhiên, với tổng diện tích hơn 8.000 ha trong đó diện tích chè kinh doanh hơn 6.000 ha. Sản lượng chế biến hàng năm đạt 9-10 ngàn tấn trong đó xuất khẩu từ 5-6 ngàn tấn, thì việc mới chỉ có 2 đơn vị triển khai xây dựng hệ thống QLCL theo HACCP trong sản xuất, chế biếnchè vẫn còn là quá ít.

     

    Thứ ba: Kiện toàn lại hệ thống sản xuất, chế biến chè

     

    Hiện nay, sự phát triển của các cơ sở chế biến đã vượt quá nhanh so với phát triển nguyên liệu, đặc biệt là sự phát triển một cách ồ ạt các cơ sở chế biến chè thủ công (các cơ sở chế biến mini) có thể nói đây là một căn bệnh trầm kha không chỉ của ngành chè Nghệ An mà của cả ngành chè trên cả nước. Theo thống kê của Chi cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản Nghệ An; tính đến thời điểm này, toàn tỉnh đã có 68 cở sở sản xuất, chế biến chè trong đó có đến 60 cơ sở chè thủ công có công suất từ 0,5 tấn – 10 tấn/ngày hoạt động, và tập trung nhiều nhất ở huyện Thanh Chương với 54 lò, các huyện còn lại Anh Sơn 04 lò, Con Cuông 02 lò. Đặc biệt tại địa bàn xã Thanh Thịnh – Thanh Chương có tới 34 lò chế biến chè thủ công. Cơ sở chế biến phát triển sẽ giúp cho người dân dễ dàng tiêu thụ chè nguyên liệu nhưng nếu phát triển ngoài tầm kiểm soát sẽ làm mất tính cân bằng giữa nguyên liệu và chế biến sản phẩm. Các cơ sở chế biến thủ công đều do UBND các huyện cấp giấy phép hoạt động, cá biệt có nhiều cơ sở hoạt động từ nhiều năm nay tại địa bàn huyện Thanh Chương nhưng không có giấy phép. Hầu hết chủ cơ sở đều không có bằng cấp về kỹ thuật chế biến chè nên việc xây dựng xưởng, lắp đặt thiết bị và tổ chức sản xuất thông qua kinh nghiệm thực tế nên không đạt yêu cầu. Thiết bị chế biến tại các cơ sở chế biến không đồng bộ, nhiều thiết bị đã trở nên lạc hậu, vị trí lắp đặt các thiết bị không phù hợp nên hạn chế trong thao tác, sản phẩm các cơ sở chế biến thủ công này cũng dừng lại ở mức sơ chế và được bán cho các công ty tư nhân trong và ngoại tỉnh.

     

    Bên cạnh phát triển các cơ sở chế biến thủ công một cách ồ ạt thì việc người dân thu hái sản phẩm bằng máy hái chè không đúng quy cách cũng góp phần không nhỏ tới việc làm giảm chất lượng sản phẩm chè thành phẩm. Hiện nay hầu hết các địa phương đều sử dụng máy để thu hoạch chè tươi nguyên liệu. Không thể phủ nhận hiệu quả của việc sử dụng máy hái chè thời gian qua đã nâng cao hiệu suất lao động trong khâu thu hái. Nếu chỉ sử dụng tay để thu hái thì mỗi năm thu hái 10 lứa trong lúc thu hoạch bằng máy mỗi năm chỉ thu từ 7-8 lần thậm chí có những vườn chè chỉ thu hoạch được 5-6 lần. Tính tổng sản lượng thu hoạch trong năm thì cả 2 phương pháp này tương đương nhau nhưng xét về chỉ tiêu chất lượng nguyên liệu thì thu hái bằng tay cho chất lượng hơn hẳn. Nguyên liệu không đảm bảo là nguyên nhân chính dẫn đến chất lượng chè thành phẩm thấp, điều đó là tất yếu và ai cũng hiểu nhưng do phải cạnh tranh để có nguyên liệu nên các cơ sở chế biến đã bỏ qua điều đó. Thu hoạch nguyên liệu bằng máy không đúng quy cách không chỉ làm giảm chất lượng nguyên liệu mà còn có nguy cơ dẫn đến kiệt quệ cây chè, làm giảm tuổi thọ vườn chè. Chính vì vậy cần phải tiến hành tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc đặc biệt là thu hái sản phẩm bằng cách sử dụng máy hái chè cho người dân, đồng thời có chế tài phù hợp trong công tác quản lý, thu mua nguyên liệu để người trồng chè  nghiêm túc thực hiện việc thu hái đảm bảo chất lượng theo sự hướng dẫn của cán bộ  kỹ thuật.

     

    Lê Hữu Tiệp - Chi cục QLCL NLS & TS

 

Nghe nhạc