Trang TTĐT Sở NN&PTNT Nghệ An

thông tin chi tiết

  • Kỹ thuật nuôi Ngao
    30/03/2012 08:36
  • Ngao là nhóm động vật nhuyễn thể có tiềm năng lớn ở vùng triều nước ta. Kỹ thuật nuôi đơn giản, chu kỳ nuôi ngắn, đầu tư ít lại có giá trị xuất khẩu.
  •         Nuôi ngao, nghêu còn là biện pháp tích cực để bảo vệ và phát triển nguồn lợi, góp phần làm sạch môi trường đáy vùng triều ven biển. Nên những năm gần đây nhiều địa phương trong đó có Nghệ an đã có những chính sách hỗ trợ cho người nuôi ngao như: Xây dựng các mô hình trình diễn, hỗ trợ các trại sản xuất giống ... Tuy nhiên để phát triển một cách bề vững nghề này, người nuôi cần biết được một số đặc điểm sinh học của ngao và quy trình kỹ thuật.   

     

    I. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA NGAO:

     

    1. Phân bố:

     

              Ngao phân bố trên các bãi biển, trong các eo vịnh có đáy là cát pha bùn (cát chiểm 60 - 80%), sóng gió nhẹ, có lượng nước ngọt nhất định chảy vào. Ở nơi đáy nhiều bùn ngao dễ bị chết ngạt, nơi đáy cát chiếm 100% ngao bị khô nóng.

     

              - Ngao sống ở trung, hạ triều cho đến độ sâu tới 10 m ở đáy biển.

     

              - Ngao là động vật nhuyễn thể rộng nhiệt. Thích nghi được với nhiệt độ từ 5 - 350C, nhưng ở nhiệt độ 18 - 300C sinh trưởng tốt nhất. Giới hạn chịu nhiệt cao là 430C. Khi nhiệt độ lên tới 440C ngao chết 50%, ở 450C chết toàn bộ. Ở nhiệt độ 37,50C sống được 10,4 giờ, 400C sống được 5,3 giờ, 420C sống được 1,5 giờ. Khi nhiệt độ giảm xuống 00C, các tơ mang ngừng hoạt động. Ở nhiệt độ âm 2-30C  sau 3 tuần chỉ chết 10%.

     

    Ảnh: Vùng nuôi ngao xã Sơn hải Q Lưu

     

              - Ở độ mặn 19 - 26‰ ngao sinh trưởng tốt. Trong môi trường tự nhiên nếu độ mặn biến đổi đột ngột sẽ gây chết hàng loạt. Những vùng bị ảnh hưởng nước lũ kéo dài gây ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng của ngao, có thể gây chết hàng loạt. Những vùng này thường không có ngao phân bố.

     

              - Ngao là loài sống đáy, chân phát triển để đào cát vùi mình xuống dưới. Để hô hấp và lấy mồi ăn ngao thò vòi nước lên mặt bãi hình thành một lỗ hình bầu dục màu vàng nhạt, nhìn lỗ có thể biết được chỗ ở của ngao. Vòi ngao ngắn nên không thể chui sâu, thường chỉ cách mặt đáy vài cm. Trời lạnh ngao xuống sâu hơn nhưng không quá 10cm.

     

              - Hiện tượng ngao di chuyển nổi trong nước: Khi gặp biểu hiện môi trường không thích hợp, ngao có thể nổi lên trong nước và di chuyển tới vùng khác bằng cách tiết ra một túi nhầy hoặc một dải chất nhầy để giảm nhẹ tỷ trọng cơ thể và nổi lên được trong nước và theo dòng nước triều di chuyển tới nơi khác. Ngao có thể nổi lên ở độ cao 1,2m. Ngao thường di chuyển vào mùa hạ, mùa thu. Mùa hạ ngao sống ở vùng triều cao, bãi cạn chịu thời gian chiếu nắng dài làm cho bãi cát nóng lên ngao phải di chuyển theo nước triều rút xuống vùng sâu hơn. Mùa thu nhiệt độ hạ dần, gió thổi liên tục làm cho nhiệt độ giảm nhanh ngao không chịu được phải di chuyển xuống vùng sâu. Mặt khác, sự di chuyển của ngao cũng có quan hệ tới sinh sản. Khi ngao lớn tới 5- 6 cm ở giai đoạn sinh dục thành thục ngao thường di chuyển nhiều.

     

              Đặc điểm này phải được hết sức chú ý, giữ không cho ngao đi mất. Người ta thường dùng dây cước sợi 3 x 3 căng ở đáy 3cm theo chiều vuông góc với đường nước triều rút, dây căng sẽ cắt đứt tuyến nhầy của ngao và ngao sẽ bị chìm xuống đáy. Phương pháp này rất có hiệu quả với ngao cỡ 3-5cm.

     

    2. Tính ăn:

     

              Phương thức bắt mồi ăn của ngao là bị động. Khi triều dâng ngao thò vòi lên cát để lọc thức ăn, chọn những hạt, vụn hữu cơ có cỡ to nhỏ thích hợp. Thức ăn chủ yếu của ngao là tảo khuê, các mảnh vụn và chất vẩn cặn hữu cơ.

     

    3. Sinh trưởng:

     

              Ngao dầu 1 năm tuổi có khối lượng 5 - 7 g, 2 tuổi có khối lượng 12 g.

     

    Thời gian ngao lớn nhanh vào tháng 4 - 9, lúc này nhiệt độ thích hợp. Hai năm đầu ngao lớn nhanh sau chậm dần. Ngao dầu có cỡ cá thể lớn tới 13cm, cao 11cm, dầy 5,8cm.

     

              Sức lớn của ngao có liên quan chặt chẽ với vùng phân bố có nhiều hay ít mồi ăn, vùng cửa sông có nhiều thức ăn, hàm lượng oxy dồi dào ngao lớn nhanh, ngao sống ở vùng triều thấp lớn nhanh hơn ở vùng triều cao.

     

    4. Sinh sản:

     

              Ngao đực, cái là dị thể. Trứng và tinh trùng phóng ra thụ tinh trong nước. Ngao 1 tuổi có thể thành thục. Nhìn bề ngoài không phân được đực cái, nhưng khi tuyến sinh dục thành thục có thể dựa vào màu sắc tuyến sinh dục để phân biệt. Ngao cái có màu vàng nhạt, ngao đực có màu trắng sữa. Mặt khác ở ngao đực đã thành thục tốt khi làm vỡ phần mềm ở dưới bụng tinh dịch sẽ chảy ra nhưng ở con cái dù thành thục ở mức độ tốt cũng không có hiện tượng chảy ra.

     

              Mùa sinh sản của ngao vào hè thu; lượng trứng của ngao có quan hệ với cỡ cá thể to nhỏ. Con lớn có tới 600 vạn trứng, ngao có khối lượng 5g lượng ôm trứng vượt quá 20 triệu hạt. Ngao có khối lượng 5,4g mỗi lần đẻ 40 vạn hạt.

     

              Phương thức sinh sản của ngao là phần sau của thân thò vòi lên mặt nước. Tinh trùng, trứng rụng vào xoang rồi qua vòi nước từ từ tuôn ra. Sau đó khuyếch tán trong nước biển. Thời gian đẻ của một con cái kéo dài tới 1 giờ. Trong bể đẻ khi ngao đẻ rộ làm cho nước biển trong sạch trở nên rất vẩn đục. Phương thức đẻ của ngao rất độc đáo dù là triều cường hay triều nhỏ, ban ngày hay ban đêm đều có thể đẻ trứng. Ngao đẻ trứng phân theo đợt, thời gian cách nhau có khi là nửa tháng và có khi tới một tháng.

     

    II. KỸ THUẬT NUÔI NGAO THƯƠNG PHẨM

     

    1) Chọn bãi nuôi

     

              Chọn bãi triều, eo vịnh có sóng gió nhỏ, nước triều lên xuống êm, thông thoáng, có lượng nước ngọt nhất định chảy vào, đáy là cát bùn, cát chiếm 60-80%. Bãi ở trung, hạ triều là thích hợp; Độ mặn từ 19-26‰.

     

              Chỉnh bãi: trước khi thả giống phải chỉnh bãi như đối với bãi ngao giống. Chỗ bãi có đáy rắn phải làm cho xốp lên rồi san bằng; để giữ cho mặt bãi không tích nước phải khai mương nhỏ.

     

              Trước khi thả giống ở phía cuối bãi dùng đăng tre hoặc lưới chắn xung quanh với độ cao 0,6 - 0,7m, chân đăng (lưới) vùi sâu xuống bùn cát từ 0,2-0,3m. Cắm cọc, cách đều nhau 1,2 - 1,5m để dựng lưới và ngả lưới vào phía trong bãi.

     

    Trường hợp không dùng đăng lưới thì đắp bờ.

     

    Trên mặt bãi căng nhiều giây ngang để giữ không cho ngao đi.

     

    2) Mật độ thả giống

     

              Tùy thuộc vào kích cỡ ngao giống mà định ra mật độ, thông thường:

     

    Cỡ giống 5 vạn con 1 kg. Thả 100 kg/1.000 m2

     

    Cỡ giống 4 vạn con 1 kg. Thả 110 kg/1.000 m2.

     

    Cỡ giống 3 vạn con 1 kg. Thả 140 kg/1.000 m2.

     

    Cỡ giống 2 vạn con 1 kg. Thả 180kg/1.000 m2

     

    3) Chăm sóc quản lý:

     

              Quá trình nuôi thường gặp hiện tượng ngao bị chết hàng loạt, nguyên nhân chủ yếu là:

     

    * Nhiệt độ cao xuất hiện vào tháng 7 - 8, lúc này ngao giống đang còn yếu.

     

    * Vùng bãi đã nuôi trên 3 mùa ngao liên tục, chất hữu cơ lắng đọng tăng lên tới 5-6 lần so với bình thường, có thể thấy lớp cát đen dày tới vài cm và có mùi khí thối H2S, do vậy phải bừa lật mặt đáy lên phơi bãi.

     

              Các yếu tố khác có thể dẫn tới làm chết hàng loạt là tỷ trọng thay đổi đột ngột, vùng nước bị ô nhiễm, mật độ dày...

     

    4. Thu hoạch:

     

              Thu hoạch vào mùa xuân, thu dễ bảo quản, thu hoạch vào mùa hè nhiệt độ cao khó bảo quản.

     

              Có thể thu hoạch ngao bằng những phương pháp sau:

     

    (1) Lợi dụng tính hướng cọc gỗ của ngao để thu. Trên bãi cứ cách 1,5m đóng một cọc gỗ có đường kính 4 - 5 cm, dài 65 - 70 cm. Sau một thời gian ngao sẽ tập trung ở xung quanh cọc gỗ với bán kính 30 cm, lúc này bắt rất thuận tiện.

     

    (2) Dùng con lăn đá, khi con lăn lăn qua rồi ngao ở dưới bị ép sẽ phun nước lên, từ chỗ có nước phun có thể bắt ngao.

     

    (3) Dùng chân đạp trên nước nông để bắt

     

    Nguồn tin:  Trần Trung Thành - Trung tâm khuyến nông

 

Nghe nhạc