Trang TTĐT Sở NN&PTNT Nghệ An

thông tin chi tiết

  • Một số kinh nghiệm rút ra từ vụ nuôi tôm năm 2011 và giải pháp khắc phục
    30/03/2012 08:14
  • Nghệ an là một tỉnh đi đầu trong phong trào nuôi tôm của các tỉnh phía Bắc. Với diện tích là 1.770 ha (trong đó 1.638ha là nuôi tôm thẻ chân trắng còn lại là tôm sú). Năng suất bình quân vụ nuôi tôm 2011 đạt khá cao, đối với tôm sú thâm canh 1.5 tấn/ha, tôm thẻ là 6-7 tấn/ha (có nhiều hộ đạt 15-18 tấn/ha).
  •          Do đó sản lượng nuôi tôm hàng năm cũng tăng nhanh, năm 2009 sản lượng chỉ đạt 3500 tấn nhưng đến năm 2011 đạt 9100 tấn (trong đó tôm thẻ đạt 9000 tấn) là sản lượng tôm nuôi cao nhất từ trước đến nay. Tuy nhiên bên cạnh kết quả đạt được thì rủi ro về dịch bệnh trên tôm vẫn thường xuyên xảy ra, năm 2011 diện tích tôm bị bệnh 160ha chiếm 9.2% đã ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất, sản lượng vụ nuôi. Những nguyên nhân xảy ra dịch bệnh được rút ra từ cuộc hội thảo do ngành tổ chức như sau:

     

                1-Nguyên nhân chính:

     

                * Nguyên nhân chủ quan:

     

                - Nguồn tôm giống không đảm bảo chất lượng là một trong những nguyên nhân làm cho tôm bị bệnh, hầu hết các hộ nuôi có diện tích nuôi tôm bị bệnh mua giống qua dịch vụ khi đưa về địa bàn không qua kiểm dịch chất lượng, mặt khác không qua ương gièo, thả trực tiếp xuống ao hồ. Qua kết quả thống kê năm 2011 số hộ trước khi thả giống không qua kiểm định chất lượng chiếm 56%.

     

                - Công tác cải tạo ao đầm trước, sau vụ nuôi và xử lý môi trường của người dân chưa thực hiện tốt nên mầm bệnh vẫn đang tồn dư trong và ngoài ao nuôi.

     

    Mô hình nuôi tôm xã Quỳnh Bảng-Quỳnh Lưu  - Nghệ an

     

                - Cơ sở hạ tầng: nhiều vùng nuôi không sử dụng ao chứa lắng, xử lý trước khi lấy vào ao nuôi; người dân tự ý hút chất thải trong ao nuôi tôm thải ra môi trường bên ngoài làm nguy cơ lây lan dịch bệnh ngày càng cao.

     

                - Ý thức người nuôi: nhiều hộ nuôi chưa tuân thủ công tác dập dịch như khi phát hiện tôm bị bệnh chưa đạt kích cỡ thương phẩm vẫn tiến hành thu hoạch, mặt khác thiết bị vận chuyển không đảm bảo gây rò rỉ nước rơi vãi ra ngoài môi trường trong quá trình vận chuyển. Đồng thời việc khử trùng tiêu độc trước và sau khi ra vùng dịch chưa thực hiện nghiêm túc.

     

                * Nguyên nhân khách quan:

     

                - Thời tiết, khí hậu diễn biến phức tạp, thời gian đầu năm rét đậm, rét hại kéo dài đã làm ảnh hưởng lớn đến sản xuất giống và nuôi trồng thủy sản. Vào giữa vụ nuôi, xuất hiện nhiều cơn mưa trái mùa làm môi trường ao nuôi biến động lớn, gây phát sinh bệnh.

     

      PGĐ Sở NN&PTNT Trần Hữu Tiến khai mạc lớp tập huấn nuôi tôm Thẻ tại TPVinh-Nghệ

     

                - Sự chuyển đổi đối tượng nuôi nhanh, các cơ sở sản xuất giống không chuẩn bị giống cung ứng kịp thời.

     

                - Môi trường ô nhiễm kèm theo cơ sở hạ tầng không đồng bộ dẫn đến việc kiểm soát nguồn bệnh gặp nhiều khó khăn. Một số bệnh mới xuất hiện trên tôm nuôi dẫn đến công tác phòng ngừa bệnh cho tôm chưa có hiệu quả.

     

                Từ những nguyên nhân trên, ngành đề ra một số giải pháp sau:

     

                2- Giải pháp:

     

                * Về kỹ thuật:

     

                -Tôm giống: Tuyển chọn con giống có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng đạt chất lượng tốt đã qua kiểm định không bị nhiễm bệnh. Các hộ nuôi (nhất là nuôi tôm thẻ chân trắng) cần quan tâm tái kiểm định, kiểm dịch giống trước khi thả.

     

                Tôm giống nhập về phải được ương gièo trong bể từ 2 ngày trở lên sau đó lấy mẫu kiểm tra các chỉ tiêu virus đốm trắng, Taura, MBV đạt yêu cầu mới được xuất bán.

     

                - Công trình nuôi: Diện tích ao chứa(lắng) chiếm từ 15-20% tổng diện tích mặt nước của cơ sở, vùng nuôi; bờ và đáy ao chắc chắn, không rò rỉ, thẩm lậu; có hệ thống xử lý nước thải từ ao nuôi tôm trước khi thải ra môi trường.

     

                Ao nuôi phải có diện tích mặt nước tối thiểu 3.000m2; độ sâu đáy ao đến mặt bờ phải đạt tối thiểu 2,0m; bờ ao phải chắc chắn, không rò rỉ. Cống cấp và thoát nước riêng biệt đảm bảo chắc chắn, không rò rỉ. Cống cấp phải có lưới chắn lọc nước nhằm loại bỏ cá tạp, địch hại và cỏ rác khi cấp nước vào ao

     

                - Cải tạo ao đầm và xử lý môi trường: Thực hiện tốt công tác cải tạo xử lý ao đầm trước và sau vụ nuôi. Đặc biệt với các ao nuôi tôm bị bệnh cần thực hiện nghiêm túc trong việc khử trùng tiêu độc, vệ sinh môi trường chung vùng nuôi một cách nghiêm túc

     

                - Mùa vụ: Thực hiện nghiêm túc lịch thời vụ của Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn đề ra. Đối với tôm thẻ chân trắng: Nuôi 2 vụ/năm, mật độ nuôi 80-100con/m2, kích cỡ giống P12, thời gian thả giống vụ 1 từ 20/3 đến 30/6, thả giống vụ 2 từ 20/9 đến 5/11. Đối với tôm Sú: Chỉ nuôi 1 vụ/năm, thời gian thả giống từ 15/4 đến 15/6. Trong đó nuôi thâm canh, bán thâm canh: mật độ 15-20con/m2; quảng canh cải tiến: mật độ dưới 6con/m2, kích cỡ giống P15.

     

                - Chăm sóc quản lý: Đẩy mạnh áp dụng quy trình nuôi tôm sú, tôm thẻ thâm canh đảm an toàn vệ sinh thực phẩm Việt GAP. 

     

                + Cho tôm ăn đầy đủ về số lượng và đảm bảo về chất lượng, đặc biệt khi thời tiết thay đổi và tôm nuôi đến giai đoạn 30-50 ngày tuổi cần có chế độ chăm sóc(bổ sung Vitamin C, khoáng,...nhằm nâng cao sức đề kháng) và quản lý môi trường thích hợp.

     

                + Thức ăn và chất bổ sung thức ăn: Phải nằm trong danh mục được phép lưu hành tại Việt Nam. Trường hợp cơ sở tự sản xuất thức ăn cho tôm thì chất lượng thức ăn phải đảm bảo theo quy định của Tiêu chuẩn ngành 28 TCN 102:2004 thức ăn hỗn hợp dạng viên cho tôm sú.

     

                + Thuốc, chế phẩm sinh học, sản phẩm xử lý và cải tạo môi trường nuôi trồng thủy sản phải nằm trong các danh mục được phép lưu hành tại Việt nam.

     

                + Cơ sở nuôi phải ghi nhật ký và lưu giữ hồ sơ về hoạt động sản xuất nuôi tôm

     

                 * Công tác quy hoạch:

     

                - Quy hoạch các vùng sản xuất giống tôm thẻ chân trắng nhằm có được nguồn con giống sạch bệnh cung cấp cho người nuôi trên địa bàn tỉnh.

     

                - Rà soát quy hoạch lại diện tích mặn lợ trên địa bàn tỉnh cho phù hợp với tình hình phát triển, xây dựng các khu chứa chất thải ở các vùng nuôi tập trung.

     

                - Đầu tư xây dựng mới, nâng cấp hệ thống kênh cấp và tiêu nước riêng biệt trong vùng nuôi.

     

                - Xây dựng khu xử lý bùn và chất thải.

     

                * Công tác quản lý:

     

                - Tăng cường sự kiểm tra, giám sát và phối hợp của các cơ quan ban ngành từ tỉnh xuống địa phương.

     

                - Tăng cường công tác quan trắc, cảnh báo môi trường và dịch bệnh cho các vùng nuôi.

     

                - Thực hiện kiểm tra, kiểm soát, kiểm định, kiểm dịch chặt chẽ chất lượng con giống và vùng nuôi trồng. Xử lý nghiêm những tổ chức cá nhân sản xuất, kinh doanh tôm giống không chấp hành quy định của nhà nước.

     

    Nguồn tin: Phạm Ngọc Hùng - TTKNKN Nghệ an

 

Nghe nhạc