Trang TTĐT Sở NN&PTNT Nghệ An

thông tin chi tiết

  • Một số đặc điểm của bệnh dịch tả lợn Châu phi và hướng dẫn tạm thời các biện pháp ngăn chặn bệnh dịch tả lợn châu phi xâm nhiễm vào tỉnh Nghệ An
    05/03/2019 15:35
  •  
  • I. MỘT SÓ ĐẶC ĐIẺM CỦA BỆNH DỊCH TẢ LỢN CHÂU PHI

     

    1.Đặc điểm chung của bệnh Dịch tả lợn Châu Phi

     

    Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (tên tiếng Anh là African swine fever - viết tắt ASF) là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do vi rút gây ra. Bệnh có đặc điếm lây lan nhanh và xảy ra ở mọi loài lợn (cả lợn nhà và lợn hoang dã), mọi lứa tuổi. Bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng với tỷ lệ chết cao lên đến 100%. Vi rút gây ra bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (ASFV) có sức đề kháng cao trong môi trường. Lợn khỏi bệnh có khả năng mang vi rút trong thời gian dài, có thể là vật chủ mang trùng suốt đời, do vậy khó có thể loại trừ được bệnh nếu để xảy ra bệnh Dịch tả lợn Châu Phi. Bệnh dịch tả Châu Phi không lây nhiễm và gây bệnh ở người.

     

    2.  Đặc điểm của vi rút Dịch tả lợn Châu Phi

     

    - Vi rút Dịch tả lợn Châu Phi là vi rút có gien di truyền dạng ADN, có vỏ bọc dạng Icoxahedral, kích thước lớn, chi Genus Asfi-vi rút, thuộc họ Asfarviridae. Vi rút có 1 serotype, nhung phát hiện có tới 16 genotypes và nhiều chủng khác nhau có độc lực khác nhau.

    - Vi rút Dịch tả lợn Châu Phi được tìm thấy trong máu, cơ quan, dịch bài tiết từ lợn nhiễm bệnh và chết bởi bệnh này. Lợn sau khi khỏi bệnh sẽ ở thể mãn tính có thể mang vi rút suốt đời.

    - Vi rút Dịch tả lợn Châu Phi có sức đề kháng cao, có thể tồn tại trong chất tiết, dịch tiết, trong xác động vật, trong thịt lợn và các chế phẩm từ thịt lợn như xúc xích, giăm bông, salami. Vi rút có khả năng chịu được nhiệt độ thấp, đặc biệt là trong các sản phẩm thịt lợn sống hoặc nấu ở nhiệt độ không cao vi rút có thể chịu được trong thời gian dài 3-6 tháng; vi rút có thể bị tiêu diệt ở nhiệt độ 56°c trong 70 phút hoặc ở 60°c trong 20 phút. Vi rút sống trong máu đã phân hủy được 15 tuần; trong phân ở nhiệt độ phòng được 11 ngày; trong máu lợn ở nhiệt độ 4°c trong 18 tháng; trong thịt dính xương ở nhiệt độ 39°c được 150 ngày; trong giăm bông được 140 ngày và ở nhiệt độ 50°c tồn tại trong 3 giờ.

    Trong môi trường không có huyết thanh, vi rút có thể bị phá hủy ở pH< 3,9 hoặc ở pH > 11,5. Môi trường có huyết thanh vi rút có thể tồn tại được ở pH - 13,4 trong 7 ngày; không có huyết thanh vi rút có thể sống được 21 giờ.

    Hóa chất để diệt vi rút Dịch tả lợn Châu Phi bao gồm ether, chloroform và họp chất iodine hoặc sử dụng Sodium hydroxide với tỉ lệ 8/1.000 hoặc formalin với tỉ lệ 3/1.000 hoặc chất tẩy trắng hypochlorite chứa chlorine 2,3% hoặc chất ortho- rtho-phenylphenol 3% nhưng phải duy trì thời gian 30 phút.

     

    3. Quá trình gây bệnh và lây lan vi rút Dịch tả lợn Châu Phi

     

    - Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi có thời gian ủ bệnh từ 3-15 ngày, ở thể cấp tính thời gian ủ bệnh chỉ từ 3-4 ngày.

    - Vi rút Dịch tả lợn Châu Phi lây nhiễm qua đường hô hấp và tiêu hóa, thông qua sự tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với các vật thể nhiễm vi rút như: chuồng trại, phương tiện vận chuyển, dụng cụ, đồ dùng, quần áo nhiễm vi rút và ăn thức ăn thừa chứa thịt lơn nhiễm bệnh hoặc bị ve mềm cắn.

     

    4. Phân bố của bênh Dich tả lơn Châu Phi

     

    - Năm 1921, bệnh Dịch tả lợn Châu Phi lần đầu tiên xuất hiện tại Kenya, Châu Phi và sau đó đã trở thành dịch địa phương tại nhiều nước Châu Phi.

    - Năm 1957, lần đầu tiên bệnh Dịch tả lợn Châu Phi được phát hiện và báo cáo tại châu Âu và đến nay dịch bệnh này đã xuất hiện ở nhiều nước châu Âu, trong đó có Armenia Liên bang Nga báo cáo bệnh xuất hiện vào năm 2007 và Azerbaijan vào năm 2008; bệnh cũng đã được báo cáo ở các nước châu Mỹ.

    - Năm 2007, bệnh Dịch tả lợn Châu Phi được báo cáo xảy ra ở dãy núi Caucasus giữa châu Âu và châu Á tại quốc gia Georgia.

    - Đến nay, bệnh Dịch tả lợn Châu Phi trở thành dịch địa phương ở nhiều nước trên thế giới.

    - Từ năm 2017 đến ngày 10/9/2018, đã có 17 quốc gia và vùng lãnh thồ (Bun-ga-ri, Trung Quốc, Cote D'Ivoire, CH Séc, E-xtô-ni-a, Hung-ga-ri, Kê-ni-a, Lát-vi-a, Lít-va, Môn-đô-va, Ni-giê-ri-a, Ba Lan, Ru-ma-ni, Liên bang Nga, Nam Phi, U-crai-na và Dăm-bi-a) báo cáo bệnh Dịch tả lợn Châu Phi. Tổng số lợn bệnh là 228.311 con, số lợn chết vì bệnh là 20.633, tổng đàn lợn có nguy cơ, đã buộc phải tiêu hủy là 562.761 con.

    - Tại Việt Nam, đến thời điểm này, đã có 7 tỉnh bị nhiễm dịch tả lợn châu Phi, tổng số lợn bị mắc bệnh và phải tiêu hủy là 4.231 con. Các tỉnh bị dịch ASF xâm nhiễm gồm: Hưng Yên, Thái Bình, Hải Phòng, Thanh Hóa, Hà Nội, Hà Nam và Hải Dương (tính theo thứ tự thời gian bị phát hiện có dịch).

     

    5. Triệu chửng, bệnh tích của bệnh Dịch tả lợn Châu Phi

     

    5.1. Triệu chứng

    - Thể quá cấp tính: do vi rút có độc lực cao gây ra, lợn sẽ chết nhanh, không biểu hiện triệu chứng hoặc lợn sẽ nằm và sốt cao trước khi chết.

    -Thể cấp tính: do vi rút có độc lực cao gây ra, lợn sốt cao (40,5-42°C). Trong 2-3 ngày đầu tiên, giảm bạch cầu và giảm tiểu cầu. Lợn không ăn, lười vận động, ủ rũ, nằm chồng đống, lợn thích nằm chỗ có bóng râm hoặc gần nước. Lợn có biêu hiện đau vùng bụng, lưng cong, di chuyển bất thường, một số vùng da trắng chuyên sang màu đỏ, đặc biệt là ở vành tai, đuôi, cẳng chân, da phân dưới vùng ngực và bụng, có thể có màu sẫm xanh tím. Trong 1-2 ngày trước khi con vật chết, có triệu chứng thân kinh, di chuyển không vững, nhịp tim nhanh, thở gấp, khó thở hoặc có bọt lẫn máu ở mũi, viêm mắt, nôn mửa, tiêu chảy đôi khi lẫn máu hoặc có thê táo bón, phân cứng đóng viên có kích thước nhỏ, có chất nhầy và máu. Lợn sẽ chết trong vòng 6-13 ngày hoặc 20 ngày. Lợn mang thai có thể sẩy thai ở mọi giai đoạn. Tỷ lệ tử chết cao lên tới 100%. Lợn khỏi bệnh hoặc nhiễm vi rút thể mãn tính thường không có triệu chứng, nhưng chúng sẽ là vật chủ mang vi rút Dịch tả lợn Châu Phi trong suốt cuộc đời.

    - Thể á cấp tính: gây ra bởi vi rút có độc tính trung bình. Chủ yếu được tìm thấy ở châu Âu, lợn biểu hiện triệu chứng không nghiêm trọng. Lợn sốt nhẹ hoặc sốt lúc tăng lúc giảm, giảm ăn, sụt cân, ủ rũ, viêm toàn bộ phổi nên khó thở, ho có đờm, phổi có thể bội nhiễm vi khuẩn kế phát, viêm khớp, vận động khó khăn. Bệnh kéo dài 5-30 ngày, nếu máu ứ trong tim (cấp tính hoặc suy tim) thì lợn có thể chết, lợn mang thai sẽ sẩy thai, lợn chết trong vòng 15-45 ngày, tỉ lệ chết khoảng 30-70 %. Lợn có thể khỏi hoặc bị bệnh mãn tính.

    - Thể mãn tính: gây ra bởi vi rút có độc tính trung bình hoặc thấp, chủ yếu được tìm thấy ở Angola và châu Âu. Lợn có nhiều triệu chứng khác nhau, chẳng hạn như giảm cân, sốt không ổn định, có triệu chứng hô hấp, hoại tử da, hoặc viêm loét da mãn tính, viêm khớp, viêm cơ tim, viêm phổi dính sườn, viêm các khớp khác nhau trong giai đoạn phát triển. Triệu chứng kéo dài 2-15 tháng, có tỷ lệ tử vong thấp, lợn khỏi bệnh sau khi nhiễm vi rút gây nên bệnh sẽ trở thành dạng mãn tính.

    5.2. Bệnh tích

    -Thể cấp tính: Các hạch lympho ở dạ dày, gan và thận xuất huyết. Thận có xuất huyết điểm, lá lách to có nhồi huyết. Da có màu tối và phù nề, da vùng bụng và chân có xuất huyết. Trong xoang ngực hoặc xoang bụng, bao tim có nhiều nước; có các điểm xuất huyết trên nắp thanh quản, bàng quang và bề mặt các cơ quan bên trong; phù nề ừong cấu trúc hạch lâm ba của đại tràng và phần tiếp giáp với túi mật, túi mật sưng.

    - Thể mãn tính: Có thể gặp sơ cứng phổi hoặc có các ổ hoại tử hạch, hạch phổi sưng, viêm dính màng phổi.

     

    6. Chẩn đoán bệnh Dịch tả lợn Châu Phi

     

    6.1. Chẩn đoán lâm sàng: Lợn bị nhiễm Dịch tả lợn Châu Phi có nhiều triệu chứng, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh. Lợn bệnh biểu hiện các triệu chứng không khác biệt so với triệu chứng của bệnh Dịch tả lợn cổ điển.

    6.2. Chẩn đoán phân biệt

    - Dịch tả lợn Châu Phi và Dịch tả lợn cổ điển khó có thể chẩn đoán phân biệt nếu dựa vào các triệu chứng lâm sàng và bệnh tích. Vì vậy, trong mọi trường hợp, phải lấy mẫu xét nghiệm tại phòng thí nghiệm để xét nghiệm phát hiện mầm bệnh.

    - Các bệnh khác cần được chẩn đoán phân biệt với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi bao gồm các bệnh: Bệnh tai xanh (PRRS), đặc biệt là thể cấp tính, bệnh Đóng dấu lợn, bệnh Phó thương hàn, bệnh Tụ huyết trùng, bệnh liên cầu khuẩn do Streptococcns suis, bệnh Glasser, bệnh ký sinh trùng đường máu do Trypanosoma gây ra, Hội chứng viêm da sưng thận do PCV2, bệnh giả dại ở lợn choai và bị ngộ độc muôi.

    6.3. Lấy mẫu xét nghiệm

    - Lấy mẫu máu lợn đang sốt trong giai đoạn đầu, máu được chống đông bàng bổ sung EDTA 0,5% hoặc Heparin.

    - Lách, các hạch bạch huyết, hạch amidan bảo quản ở nhiệt độ 4°c.

    - Huyết thanh từ động vật khỏi bệnh, lấy mẫu trong vòng 8-21 ngày sau khi lợn nhiễm bệnh.

     

    7. Phòng, chống bệnh Dịch tả lợn Châu Phi

     

    Hiện chưa có vắc xin, thuốc điều trị được bệnh Dịch tả lợn Châu Phi vì vậy phải tăng cường kiểm soát vận chuyển lợn và các sản phẩm của lợn; thực hiện tốt việc chăn nuôi an toàn sinh học,.... Trong trường hợp phát hiện lợn mắc bệnh, cần phải xử lý triệt để ổ dịch ở phạm vi nhỏ và chưa lây lan.

     

    II. THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN DỊCH TỪ CƠ SỞ CHĂN NUÔI

     

    Bản chất của vi rút gây bệnh dịch tả Châu Phi không tự lây lan, phát tán nhanh so với một số mầm bệnh khác như vi rút gây bệnh LMLM gia súc, Tai xanh ở lợn, Dịch tả lợn cổ điển. Nhưng nếu có tác động từ yếu tố con người như qua dụng cụ chăn nuôi, vận chuyển, giết mổ lợn, sản phẩm của lợn... nhiễm mầm bệnh thì có khả năng phát tán mầm bệnh ra ngoài môi trường, từ đó nguy cơ dịch bệnh lây lan ra diện rộng rất cao. Nếu trang trại bị nhiễm bệnh Dịch tả lợn Châu Phi thì thiệt hại vô cùng lớn, buộc phải tiêu hủy toàn bộ lợn trong trang trại, mầm bệnh tồn tại lâu dài trong môi trường, trong phân, đất... rất khó để loại trừ được bệnh. Do vậy, cần phải thực hiện các biện pháp ngăn chặn dịch lây lan vào cơ sở chăn nuôi:

    1. Áp dụng chăn nuôi theo phương pháp An ninh sinh học, có nghĩa là phải chú trọng phòng dịch từ xa như: mua giống lợn phải có nguồn gốc rõ ràng, đã được tiêm phòng đầy đủ các loại vắc xin theo quy định, được kiêm dịch, được giám sát bệnh truyền nhiễm định kỳ và có kêt quả âm tính; chuông trại phải được xây dựng hệ thông xử lý phân thải, nước thải; thường xuyên khử trùng, tiêu độc, xử lý môi trường chăn nuôi, dụng cụ chăn nuôi, ủ phân sinh học; hạn chế hoặc không cho người ngoài vào khu vực chăn nuôi; có biện pháp để tiêu diệt, ngăn ngừa côn trùng, chuột hoặc động vật khác (chó, mèo...) vào khu vực chăn nuôi...

    2. Không cho lợn ăn thức ăn thừa từ nhà hàng, khách sạn hoặc từ các nguồn lây nhiễm khác...

    3. Tăng cường giám sát thụ động, lợn chết không rõ nguyên nhân, lợn nghi mắc bệnh ở các trại cân phải được lây mâu xét nghiệm. Không được bán chạy, giêt thịt hoặc vứt xác lợn chết, lợn bệnh ra môi trường mà phải báo cáo cho chính quyền, Thú y để hướng dẫn xử lý tiêu hủy.

    4. Chăn nuôi phải theo quy hoạch và báo cáo chính quyền địa phương, cơ quan chuyên môn biết để theo dõi, giám sát.

    5. Báo cáo ngay cho chính quyền địa phương cấp xã và cơ quan Thú y nơi gần nhất khi phát hiện lợn ốm, chết, nghi bị bệnh để có giải pháp xử lý kịp thời, nhăm khống chế, xử lý dich bênh trong diên hep./.

     

    Sở Nông nghiệp và PTNT Nghệ An

     

 

Nghe nhạc