Trang TTĐT Sở NN&PTNT Nghệ An

thông tin chi tiết

  • Hướng dẫn Điều trị bệnh Tụ huyết trùng trâu, bò
    06/09/2018 14:15
  • Hiện nay, trên địa bàn tỉnh, bệnh Tụ huyết trùng trâu bò đang xảy ra tại bản Phẩy, xã Xiêng My, huyện Tương Dương làm một số trâu, bò ốm, chết. Bệnh xảy ra chủ yếu trên đàn trâu, bò thả rông trong rừng không được tiêm phòng vắc xin Tụ huyết trùng nên không có miễn dịch, mặt khác diễn biến thời tiết bất lợi, mưa nắng thất thường, bão lụt làm giảm sức đề kháng vật nuôi. Trong khi đó vi khuẩn Pasteurella multocida gây bệnh Tụ huyết trùng thường cư trú tại đường hô hấp trên của gia súc, gặp điều kiện thuận lợi sẽ phát sinh, phát triển, tăng độc lực và gây bệnh.
  • Để hạn chế dịch xẩy ra, khống chế các ổ dịch nhanh chóng, Chi cụcChăn nuôi vàThú y hướng dẫncác biện phápphòng,chống dịch bệnh Tụ huyết trùng trâu bò như sau:

     

    1. Nguyên nhân

     

    Bệnh gây ra do vi khuẩn tụ huyết trùng (Pasteurella multocida, Pasteurella haemolitica). Ở trâu, bò khoẻ có tỷ lệ mang vi khuẩn (khoảng 5 - 7%) mà vẫn sống khoẻ mạnh. Nhưng khi sức đề kháng của trâu bò giảm thấp vì các yếu tố bất lợi (thay đổi thời tiết, vận chuyển, thiếu thức ăn…) thì vi khuẩn sẽ trở nên cường độc, gây bệnh và làm cho trâu bò chết nhanh. Vi khuẩn có thể tồn tại từ 2 - 4 tuần ở phân rác và chuồng trại ẩm ướt thiếu ánh sáng mặt trời. Các loại thuốc sát trùng thông thường (Iodine 10%, chloramin B, T, nước vôi 10%, vôi bột…) và ánh sáng mặt trời đều diệt được vi khuẩn.

     

    2. Điều kiện lây lan bệnh

     

    2.1. Loài vật mắc bệnh

    Trong tự nhiên, trâu bò dễ mắc bệnh nhất. Bê, nghé đang bú mẹ ít mắc, trâu bò 2 - 3 tuổi mắc bệnh nhiều hơn trâu, bò già. Trâu thường mắc bệnh nhiều và nặng hơn bò.

    2.2. Cách nhiễm bệnh

    Bệnh tụ huyết trùng thường phát sinh ở các vùng nóng ẩm. Vào mùa mưa, vi khuẩn sẵn có trong đất được nước đưa lên mặt đất, dính vào rơm, cỏ và nước uống. Trâu bò ăn, uống phải vi khuẩn sẽ nhiễm bệnh.

    Sau khi vào đường tiêu hoá, vi khuẩn qua niêm mạc bị tổn thương do ký sinh trùng, rơm, cỏ cứng và dị vật, chúng xâm nhập vào máu, đến hệ thống lympho ruột, hạch sau hầu làm hạch này sưng rất to. Từ đó, vi khuẩn xâm nhập vào các hạch lympho khác như hạch trước vai, hạch trước đùi làm cho các hạch này cũng sưng to và bị thuỷ thũng. Vì vậy trâu, bò bị bệnh tụ huyết trùng thường có biểu hiện đặc trưng là sưng hạch hầu.

    Trong điều kiện bình thường, ở đa số trâu, bò khoẻ, vi khuẩn tụ huyết trùng thường sống trên niêm mạc đường hô hấp. Khi gặp các yếu tố ngoại cảnh bất lợi như: thời tiết thay đổi đột ngột, thiếu thức ăn, làm việc nặng nhọc, thay đổi điều kiện sống… làm sức đề kháng của con vật giảm sút, thế cân bằng sinh học bị phá vỡ, vi khuẩn tăng cường độc lực, tăng nhanh số lượng và xâm nhập vào máu để gây bệnh.

    2.3. Phương thức truyền lây

    Bệnh lây lan trực tiếp từ con ốm sang con khỏe thông qua tiếp xúc, chung đụng nguồn thức ăn, nước uống, nhốt cùng chuồng, chăn cùng bãi chăn thả hoặc dùng chung các dụng cụ chăn nuôi.

    Bệnh có thể lan xa do việc mổ thịt súc vật ốm, phân tán thịt, da. Chó, mèo, chuột, côn trùng hút máu là các môi giới trung gian truyền bệnh đi xa.

    2.4. Mùa phát bệnh

    Bệnh xảy ra rải rác quanh năm, nhưng thường tập trung vào mùa mưa đặc biệt trong điều kiện mưa nắng thất thường, ẩm độ không khí cao (từ tháng 6  - tháng 9).

     

    3. Triệu chứng

     

    Trâu, bò thường mắc bệnh ở 3 thể sau đây:

    3.1. Thể quá cấp tính

    Thể này thường ít gặp. Trâu, bò phát bệnh rất nhanh. Con vật đột nhiên lên cơn sốt cao 41 - 420C và trở nên hung dữ, điên loạn, đập đầu vào tường và chết trong vòng 24 giờ. Bê nghé 3 - 18 tháng thể hiện triệu chứng thần kinh: giãy giụa, ngã vật xuống rồi chết, có khi con vật đang ăn bỗng chạy lồng lên, điên loạn, run rẩy, ngã xuống rồi lịm đi.

    3.2. Thể cấp tính

    Thể này xảy ra phổ biến ở trâu, bò. Thời gian ủ bệnh ngắn từ 1 - 3 ngày, con vật không nhai lại, mệt lả, bứt rứt, sốt cao đột ngột 40 - 420C. Các niêm mạc mắt, mũi đỏ sẫm rồi tái xám. Nước mắt, nước mũi chảy liên tục. Các hạch lâm ba đều sưng, đặc biệt là hạch dưới hầu sưng rất to, làm cho con vật lè lưỡi ra, thở khó khăn, người ta thường gọi là bệnh "trâu bò hai lưỡi". Hạch lâm ba trước vai, trước đùi sưng, thuỷ thũng, làm cho con vật đi lại khó khăn.

    Con vật bệnh thể hiện hội chứng hô hấp, thở mạnh và khó khăn do viêm màng phổi, tràn dịch màng phổi, có tụ huyết và viêm phổi cấp.

    Một số trâu bò bị bệnh thể đường ruột, lúc đầu phân táo bón, sau đó ỉa chảy dữ dội, phân có lẫn máu và niêm mạc ruột. Bụng con vật chướng to do viêm phúc mạc và có tương dịch trong xoang bụng.

    Lúc sắp chết, con vật nằm liệt, đái ra máu, thở rất khó khăn, có nhiều chấm xuất huyết đỏ sẫm ở các niêm mạc. Bệnh tiến triển 3 - 5 ngày. Tỷ lệ chết 90 - 100%. Nếu bệnh chuyển sang nhiễm trùng máu thì con vật sẽ chết trong 24 - 36 giờ.

    3.3. Thể mạn tính

    Con vật mắc bệnh ở thể cấp tính, nếu không chết, bệnh sẽ chuyển thành mạn tính, vật bệnh thể hiện viêm ruột mạn tính: lúc ỉa chảy, lúc táo bón, viêm khớp làm cho con vật đi lại khó khăn, viêm phế quản và viêm phổi mạn tính.

    Bệnh tiến triển trong vài tuần. Con vật có thể khỏi bệnh, các triệu chứng nhẹ dần, nhưng thường con vật gầy rạc và chết do kiệt sức.

     

    4. Bệnh tích  

     

    Tụ huyết và xuất huyết ở niêm mạc mắt, mồm, mũi và tổ chức dưới da. Cơ thịt mầu tím hồng thấm nhiều nước.

    Hệ thống hạch lâm ba sưng to, thuỷ thũng và xuất huyết rõ nhất là hạch hầu, hạch vai và hạch trước đùi.

    Tim sưng to trong xoang bao tim, màng phổi, xoang ngực và xoang bụng tích nhiều nước màu vàng. Phổi viêm gan hoá từng đám.

     

    5. Chẩn đoán bệnh

     

    Dựa vào dịch tễ, triệu chứng, bệnh tích điển hình như sốt cao đột ngột, niêm mạc mắt, mũi đỏ sẫm rồi tái xám. Nước mắt, nước mũi chảy liên tục. Các hạch lâm ba sưng, đặc biệt là hạch dưới hầu sưng rất to, làm cho con vật lè lưỡi ra, thở khó. Hạch lâm ba trước vai, trước đùi sưng, thuỷ thũng, làm cho con vật đi lại khó khăn. Tim sưng to trong xoang bao tim, màng phổi, xoang ngực và xoang bụng tích nhiều nước vàng. Phổi viêm gan hoá từng đám.

    Chẩn đoán phòng thí nghiệm: Phân lập vi khuẩn gây bệnh.

     

    6. Phòng bệnh

     

    Về các biện pháp phòng bệnh, đây là biện pháp quan trọng nhất để chủ động không để bệnh xảy ra.

    - Phải đảm bảo tiêm phòng định kỳ vắc xin Tụ huyết trùng cho đàn trâu bò theo đúng hướng dẫn của cơ quan thú y, liều lượng và cách dùng theo khuyến cáo của nhà sản xuất. Thông thường, 6 tháng tiêm nhắc lại 1 lần. Lưu ý tiêm phòng cả vắc xin lở mồm long móng, khi vận chuyển ở nơi khác về cần tiêm cả một số loại thuốc phòng kí sinh trùng đường máu (Azidin, Trypamydium...).

    Đối với trâu, bò chuẩn bị vận chuyển, thay đổi điều kiện sống cần tiêm vắc xin Tụ huyết trùng trước khi chuyển đàn 21 ngày.

    - Thường xuyên vệ sinh chuồng trại, định kỳ tẩy uế, tiêu độc khủ trùng. Ở bãi chăn thả và quanh khu vực chuồng nuôi cần phát quang bụi rậm, khơi thông cống rãnh, thoát nước ở chỗ có vũng nước tù để hạn chế sự tồn tại của mầm bệnh trong tự nhiên.

    - Tăng cường sức đề kháng cho con vật bằng cách cung cấp thức ăn đảm bảo đủ chất dinh dưỡng và đủ nguồn nước sạch cho trâu bò. Hàng ngày chú ý quan sát con vật, khi thấy biểu hiện không bình thường như các triệu chứng trên cần cách ly ngay con vật ra nơi khác để điều trị kịp thời.

    Khi có dịch xảy ra phải phát hiện kịp thời gia súc ốm để cách ly điều trị, tránh làm lây lan bệnh, công bố dịch, cấm không cho vận chuyển và mổ thịt trâu, bò. Trâu, bò chết phải chôn sâu, đổ vôi bột vào hố chôn.

    Toàn bộ chuồng trại, bãi chăn phải được vệ sinh, tẩy uế và trống chuồng, bãi chăn thả triệt để. Đốt rác thải và ủ phân có trộn vôi bột để tiêu diệt mầm bệnh.

     

    7. Điều trị bệnh

     

    Do bệnh thường xảy ra ở thể quá cấp và cấp tính nên cần phát hiện bệnh sớm, điều trị kịp thời mới có kết quả cao.

    7.1. Dùng kháng sinh để điều trị bệnh

    Khi phát hiện trâu bò bị các triệu chứng trên, cần áp dụng một số phác đồ điều trị bệnh như sau : 

    Phác đồ 1:Thuốc điều trị dùng kháng sinh Streptomycin (hoặc Kanamyxin) liều dùng 25mg/kgTT tiêm bắp, phối hợp Gentacostrim hoặc Hancotmix liều dùng 200mg/kgTT, cho uống. Dùng thuốc liên tục 4 - 5 ngày. Thuốc chữa triệu chứng dùng thuốc tiêm Analgin, Hanagin C hạ sốt cho con vật. Thuốc trợ tim mạch dùng thuốc tiêm phối hợp cafein, Multivit-forte, VitaminC; Trường hợp con vật quá yếu có thể truyền huyết thanh mặn ngọt 5% (Gluco C hoặc Lactat...) với liều 1000 - 2000ml/100kg thể trọng. Về hộ lý vẫn phải cho con vật ăn cỏ tươi, mềm, ngon và bổ sung cho ăn thêm cám hoặc cháo gạo đồng thời cách ly con vật để điều trị.

    Phác đồ 2:Thuốc điều trị: Hanoxylin LA: dùng liều 1 ml/10kgTT. Thuốc tiêm một liều tác dụng điều trị kéo dài 3 - 5 ngày. Các loại thuốc chữa triệu chứng, thuốc trợ tim mạch và chăm sóc hộ lý (làm giống như phác đồ 1)

    Phác đồ 3:Dùng thuốc điều trị loại kháng sinh Hansunvil-10 (tên khác spiramycin) liều dùng 1ml/10kgTT, tiêm bắp liên tục 3 - 5 ngày. Các loại thuốc chữa triệu chứng, thuốc trợ tim mạch và chăm sóc hộ lý (làm giống như phác đồ 1)

    Phác đồ 4:Dùng thuốc điều trị kháng sinh Hanseft (tên khác: septifur) liều dùng 1 ml/ 15kgTT; tiêm bắp 3 – 5 ngày. Các loại thuốc chữa triệu chứng, thuốc trợ tim mạch và chăm sóc hộ lý (làm giống như phác đồ 1)

    Phác đồ 5:Cần tiêm ngay kháng sinh liều cao

    -  Sáng: TIALIN THÁI (chứa hoạt chất: TIAMULIN và COLISTIN), liều:  1ml/ 10 kg P

     

    - Chiều: CEFTIOFUR, liều 1g/ 100 kg P kèm theo tiêm thuốc trợ tim là CAFEIN hoặc STROPHANTIN, tiêm liên tục 5 ngày Các loại thuốc chữa triệu chứng, thuốc trợ tim mạch và chăm sóc hộ lý (làm giống như phác đồ 1)./.

     

    Nguồn tin: Chi cục Chăn nuôi và Thú y Nghệ An

 

Nghe nhạc