Trang TTĐT Sở NN&PTNT Nghệ An

thông tin chi tiết

  • Tình hình chăn nuôi Nghệ An, triển vọng và thách thức
    29/08/2018 10:59
  • Nghệ An là một tỉnh nằm ở vùng Bắc Trung Bộ của Việt Nam, có tổng diện tích tự nhiên là 16.489,97km2 (chiếm 4,9% diện tích tự nhiên của Việt Nam).
  • Là 1 trong những tỉnh có diện tích tự nhiên lớn nhất cả nước và dân số trên 3,037 triệu người (chiếm khoảng 3,2% dân số của Việt Nam) - là tỉnh đông dân thứ tư trong cả nước. Địa hình của Nghệ An phức tạp và đa dạng, bị phân cắt mạnh, hơn 80% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh có độ dốc trên 80 và hơn 38% có độ dốc trên 250, đồi núi đã chiếm tới 83% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Do vậy, Nghệ An đã được chia thành 3 vùng địa lý - sinh thái, đó là: Vùng núi cao, vùng đồi núi (vùng núi thấp), vùng đồng bằng và cát ven biển.

     

    Nghệ An nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt, đó là mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 hàng năm, với lượng mưa trung bình 2.310 mm/năm - đi cùng với đó là bão lụt. Lũ lụt thường xuyên xẩy ra trên diện rộng gây nhiều khó khăn và thiệt hại cho sản xuất và đời sống. Mùa khô kéo dài từ tháng 1 tới tháng 7 hàng năm, thời kỳ này thường có nắng gay gắt, đặc biệt là thường xuất hiện gió Tây Nam (còn gọi là hiệu ứng Phơn hay gió Lào) làm cho nhiệt độ có những ngày có lên tới 420C, thường gây ra hạn hán nghiêm trọng. Trong mùa này cây trồng cũng như vật nuôi dễ bị thiếu nước, cây trồng nói chung và cây cỏ nói riêng chậm sinh trưởng, dẫn tới thiếu thức ăn xanh cho gia súc.

     

    I. Tình hình chăn nuôi tỉnh Nghệ An:

    1. Kết quả phát triển tổng đàn, tổng sản phẩm:

    Ngành chăn nuôi của Nghệ An khá đa dạng và phát triển, chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ trên 80%. Trong những năm gần đây, Tỉnh đã có nhiều chủ trương, chính sách về phát triển chăn nuôi như: Sind hóa đàn bò, nạc hóa đàn lợn, phát triển chăn nuôi bò sữa, bò thịt chất lượng cao... đầu tư phát triển hệ thống khuyến nông, nâng cao trình độ cho cán bộ khuyến nông các cấp để tập huấn chuyển giao các kỹ thuật tiến bộ cho nông dân; đầu tư cơ sở hạ tầng và dịch vụ chăn nuôi thú y...

     

      1.1. Tình hình chăn nuôi trâu, bò

    - Tính đến 01/4/2018, tổng đàn trâu, bò ước đạt 744.840 con tăng 1,13% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó: Tổng đàn trâu 284.480 con giảm2,17% so với cùng kỳ năm 2017; Tổng đàn bò năm 460.360 con tăng 3,3% so vớicùng kỳnăm 2017. Tổng đàn bò, bê sữa ước đạt 65.666 con tăng 0,53% so với cùng kỳ năm 2017.

    Tỷ lệ bò lai zebu đạt 55%(năm 2017 là 53%), phấn đấu đến năm 2020 đạt 61%, còn lại là các giống bò địa phương như: bò vàng, bò H’mông, bò lai địa phương. Giống trâu chủ yếu là trâu nội.

    -  Sản lượng thịt trâu, bò hơi xuất chuồng 1/4/2018 ước đạt 16.347 tấn tăng 6% so với cùng kỳ năm 2017.

    - Chăn nuôi bò sữa tiếp tục phát triển nhanh, 02 dự án lớn về chăn nuôi bò sữa theo hướng công nghiệp công nghệ cao của công ty CP Thực phẩm sữa TH và Vinamilk tiếp tục phát triển. Sáu tháng đầu năm 2018 sản lượng sữa đạt 143.121tấn tăng 4,75% so với cùng kỳ năm 2017. Chăn nuôi bò nông hộ được quan tâm và phát triển, hiện nay số bò sữa nông hộ 1.205 con tại các huyện Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳnh Lưu và Thị xã Thái Hoà, mang lại thu nhập cao cho người chăn nuôi.

    -  So với cả nước:

    + Nghệ An là tỉnh có số lượng đàn trâu đứng đầu cả nước đạt 284.480 con, đứng thứ 2 là tỉnh Thanh Hóa (191.655 con), đứng thứ 3 là tỉnh Hà Giang (159.342 con). Tuy nhiên, sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng Nghệ An chỉ đạt 8.430 tấn đứng thứ 3 so với cả nước, còn tỉnh Thanh Hóa đứng đầu cả nước về sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng là 14.108 tấn. Như vậy, tổng đàn trâu của tỉnh Nghệ An cao hơn tỉnh Thanh hóa là 1,48 lần, nhưng ngược lại sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng của Thanh hóa lại cao hơn 1,78 lần so với tỉnh Nghệ An.

    + Tương tự, tổng đàn bò tỉnh Nghệ An đứng đầu cả nước đạt 460.360 con, đứng thứ 2 là tỉnh Gia Lai đạt 390.000 con, đứng thứ 3 là tỉnh Bình Định đạt 284.717 con; Sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng tỉnh Bình Định đứng đầu cả nước đạt 27.868 tấn, tỉnh Gia Lai đứng thứ 2 đạt 19.310 tấn, Nghệ An đứng thứ 3 đạt 15.370 tấn. Như vậy, tổng đàn bò tỉnh Nghệ An cao gấp 1,18 lần so với tỉnh Gia Lai, cao gấp 1,6 lần so với tỉnh Bình Định; còn sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng của tỉnh Nghệ An lại thấp hơn 1,8 lần so với tỉnh Bình Định, thấp hơn 1,25 lần so với tỉnh Gia Lai.

    Nguyên nhân: tuy Nghệ An có tổng đàn trâu, bò lớn nhất cả nước nhưng sản lượng thịt hơi xuất chuồng lại thấp hơn nhiều lần so với các tỉnh khác là do tầm vóc quá nhỏ, năng suất thấp, cụ thể tỷ lệ bò lai của tỉnh Bình Định chiếm 83% so với tổng đàn bò, còn tỉnh Gia lai cũng chiếm gần 43% tổng đàn bò, trong khi đó tỷ lệ bò lai tỉnh Nghệ An chỉ chiếm 55% tổng đàn bò.

     

    1.2. Tình hình chăn nuôi lợn

    - Nghệ An có đàn lợn khá lớn, tính đến tháng 01/4/2018 ước đạt: 889.968 con, giảm0,14% so với cùng kỳ năm 2017;Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ước đạt 68.401 tấn tăng 4,88% so với năm 2017.

    - Tổng đàn lợn Nghệ An đứng thứ 4 so với cả nước (889.968 con); đứng đầu là tỉnh Đồng Nai (1.623.645 con), đứng thứ 2 là Hà Nội (1.588.217 con), đứng thứ 3 là tỉnh Bắc Giang (1.140.158 con); Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng: đứng đầu là Hà Nội (1.939.639 tấn), đứng thứ 2 là tỉnh Đồng Nai (1.623.645 tấn), đứng thứ 3 là tỉnh Bắc Giang (1.293.828 tấn), đứng thứ 4 là tỉnh Nghệ An (68.401 tấn).

     

    1.3. Tình hình chăn nuôi gia cầm

    - Tổng đàn gia cầm thời điểm 01/4/2018 ước đạt gần 22,5 triệu con tăng 5,74%so với cùng kỳ năm 2017.Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng ước đạt 28.946 tấn, tăng 13,6% so với cùng kỳ năm 2017;

    - Tổng đàn gia cầm, tổng sản lượng tỉnh Nghệ An đứng thứ 3 cả nước, đứng thứ đầu cả nước là Hà nội đạt 38 triệu con và 46.899 tấn thịt gia cầm hơi xuất chuồng, đứng thứ 2 là Đồng Nai đạt 25,8 triệu con và 38.832 tấn thịt hơi xuất chuồng.

    Đặc biệt, Nghệ An có vùng đồi núi và núi cao chiếm tới gần 83% tổng diện tích đất tự nhiên. Tại các huyện miền núi như Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp,... đã và đang tồn tại một hệ thống động thực vật rất đa dạng và phong phú, trong đó phải kể đến các vật nuôi như: Vịt bầu Quỳ, gà ác; bò H’mông, lợn mẹo, lợn Xao Va.

     

    2. Kết quả phát triểnsản xuất chăn nuôi:

    - Chuyển dần chăn nuôi từ vùng mật độ dân số cao (đồng bằng) đến nơi có mật độ dân số thấp (trung du, miền núi); hình thành các vùng chăn nuôi xa thành phố, khu dân cư; chuyển dịch cơ cấu theo hướng tăng tỷ trọng gia cầm trong đàn vật nuôi; Khuyến khích áp dụng công nghệ cao, tổ chức sản xuất khép kín hoặc liên kết giữa các khâu trong chuỗi giá trị từ sản xuất giống, thức ăn, đến chế biến để nâng cao năng suất, cắt giảm chi phí, tăng hiệu quả và giá trị gia tăng; phát triển chăn nuôi gắn với vấn đề xử lý chất thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm và phòng chống dịch bệnh.

    - Tỉnh đã tập trung chỉ đạo, quản lý nâng cao chất lượng con giống. Chú trọng thay đổi cơ cấu đàn giống cao sản và giống đặc sản, như lợn nít, lợn đen địa phương, gà ác, vịt bầu quỳ... phát triển các mô hình chăn nuôi phù hợp theo phân khúc thị trường khác nhau.

    - Những năm qua, chăn nuôi có bước phát triển toàn diện trong phương thức chuyển dịch theo hướng tập trung, quy mô trang trại, gia trai, công nghiệp, đầu tư ứng dụng công nghệ cao, tăng năng suất, hiệu quả kinh tế. Hiện toàn Tỉnh có 5 trang trại áp dụng công nghệ cao,có 315trang trạichăn nuôi đạt tiêu chí theo Thông tư 27 chiếm 7% tổng đàn lợn, 5% đối với gia cầm. Có 915 trang trại tổng hợp được cấp chứng nhận kinh tế trang trại trong đó 219 trang trại tổng hợp có hoạt động chăn nuôi; Có 06 nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi;

    - Hiện tại tỉnh Nghệ An ứng dụng công nghệ cao vào chăn nuôi rất đa dạng với những công nghệ tiên tiến áp dụng vào lĩnh vực chọn tạo giống, sản xuất thức ăn chăn nuôi, vacxin thú y phòng chống dịch bệnh, tự động hóa dây chuyền sản xuất và chăm sóc đàn vật nuôi, xử lý ô nhiễm trong chăn nuôi,... trong đó đi tiên phong trong nghiên cứu và ứng dụng công nghệ cao là các công ty, trang trại chăn nuôi lớn như: TH true milk, Vinamilk, Thái Dương;

    Điển hình là Công ty CP thực phẩm sữa TH True milk đã đầu tư trang trại nuôi bò sữa tập trung ứng dụng công nghệ cao quy mô công nghiệp lớn nhất châu Á tại huyện Nghĩa Đàn áp dụng công nghệ cấy chuyển phôi phân ly giới tính cho ra đời đàn bò sữa cao sản có năng suất cao; gắn chíp điện tử vào chân từng con bò kết nối với máy tính đã có thể kiểm soát sức khỏe cùng các hoạt động của bò;Công ty TNHH thức ăn chăn nuôi Thái Dương đã ứng dụng công nghệ cao, đầu tư nhà máy sản xuất Bio MASS lên men sinh khối tạo ra protein (cao đạm) từ nguồn nguyên liệu rẻ sẵn có ở địa phương là ngô, sắn, vừa là chế phẩm probiotic giúp nâng cao sức khỏe và khả năng tiêu hóa thức ăn, thay thế hoàn toàn tình trạng kháng sinh trộn trong thức ăn, tăng sức đề kháng cho vật nuôi, giảm giá thành thức ăn, tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

    - Khuyến khích tổ chức sản xuất khép kín, liên kết giữa các khâu trong chuỗi giá trị để giảm chi phí, tăng hiệu quả và giá trị sản xuất, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm... Liên kết giữa người chăn nuôi và các doanh nghiệp, những năm qua trên địa bàn tỉnh đã hình thành 4 chuỗi liên kết chăn nuôi có hiệu quả của 4 công ty: CP, Jafa, Thái Dương, Vinamilk và xây dựng được có 10 xã vùng Gaph, 34 tổ HTX liên kết sản xuất.

    - Khuyến khích công nghiệp chế biến nâng cao giá trị ngành hàng thịt lợn. Tăng cường công tác kiểm tra việc sử dụng chất cấm trong chăn nuôi.

    - Trên địa bàn tỉnh hiện có 06 nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi cung cấp 150.000 tấn thức ăn công nghiệp phục vụ trong và ngoài tỉnh.

    - Giám sát và kiểm soát dịch bệnh hiệu quả; tăng cường dịch vụ thú y; quy định chặt chẽ việc quản lý và sử dụng thuốc thú y; áp dụng tiêu chuẩn an toàn thực phẩm theo chuỗi giá trị.

     

    III. Đánh giá chung:

    1. Lợi thế:

    - Tỉnh Nghệ An xác định chăn nuôi là ngành kinh tế quan trọng trong sản xuất nông nghiệp vì vậy nhiệm vụ tăng tỷ trọng chăn nuôi là giải pháp chủ yếu để duy trì và nâng cao giá trị của sản xuất nông nghiệp. Kết quả cho thấy năm 2018, tổng sản lượng thịt, trứng, sữa vượt kế hoạch mục tiêu năm 2020.

    - Nghệ An là tỉnh có nguồn lao động dồi dào phục vụ sản xuất chăn nuôi, ước tính toàn tỉnh có hơn 500 nghìn hộ sản xuất chăn nuôi, trong đó có trên 300 nghìn hộ chăn nuôi lợn, hơn 400 nghìn hộ chăn nuôi gia cầm, hơn 300 nghìn hộ chăn nuôi lợn.

    - Hệ thống các văn bản pháp lý về quản lý, chỉ đạo, phát triển chăn nuôi đã được   ban hành đầy đủ và kịp thời: Văn bản về quản lý giống,quy hoạch, đề án... Tạo dựng hành trang để chỉ đạo tổ chức thực hiện các nội dung tái cơ cấu ngành, phát triển chăn nuôi theo hướng bền vững có hiệu quả, có khả năng cạnh tranh.

    - Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, cơ hội dành cho chăn nuôi nhỏ lẻ đó là: Tiếp cận được với nguồn giống, thức ăn chăn nuôi rẻ hơn, đa dạng thị trường, chi phí rẻ hơn do thuận lợi hóa thương mại, giảm chi phí. Tiếp cận với công nghệ mới, hệ thống quản lý, quy trình sản xuất mới.

     - Các cơ chế chính sách hỗ trợ đầu tư­ phát triển chăn nuôi được đầu tư kịp thời, công tác giám sát quản lý, chỉ đạo chặt chẽ; Các ch­ương trình dự án triển khai cơ bản đúng tiến độ; Các mô hình kinh tế được triển khai đa dạng đạt chất l­ượng và hiệu quả.

    - Chỉ đạo kịp thời bao vây, khống chế dịch bệnh nhờ thực hiện đồng loạt các biện pháp phòng, chống dịch có hiệu quả; công tác phòng, chống dịch tại các địa phương đã được quan tâm chỉ đạo. Công tác kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y tiếp tục được đẩy mạnh: Quy hoạch và chỉ đạo quyết liệt vấn đề giết mổ gia súc tập trung, đưa công tác giết mổ vào quản lý, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn tỉnh.

    - Phát triển chăn nuôi con giống lợi thế của địa phương như: Bò sữa, dê, hươu, gà thả vườn, rất hiệu quả và có tính cạnh tranh cao.

     

    2. Hạn chế:

    - Chăn nuôi Nghệ An vẫn chủ yếu là nhỏ lẻ, sản phẩm ngành hàng manh mún, chưa tạo được chuỗi liên kết giữa người sản xuất, chế biến và người tiêu dùng, chi phí đầu tư lớn nên giá thành cao. Do vậy, ngành chăn nuôi của tỉnh chủ yếu mới đáp ứng nhu cầu nội địa, chưa có ngành hàng mang tính cạnh tranh cao để xuất khẩu.

     - Chi phí cao, lợi nhuận thấp: đối với hộ chăn nuôi cơ cấu chi phí chiếm 33,4% tổng chi phí nhưng cơ cấu lợi nhuận lại rất thấp với 0,3% tổng lợi nhuận. Do vậy, khi biến động về giá các hộ chăn nuôi gặp nhiều khó khăn, trong khi đó thương lái lúc nào cũng nắm phần lãi cao. Cụ thể, tại thời điểm này khi giá tại cổng trại 48.000 - 55.000đ/ kg hơi, giá thịt lợn tại chợ 80.000 - 100.000đ/kg, các hộ chăn nuôi lãi 1-1,5 triệu đồng/ con, trong khi đó trung gian lãi 2,5-3 triệu đồng/con. Ngược lại, thời điểm tháng 4/2017 giá lợn hơi bán tại cổng trại 23.000 - 30.000đ/kg hơi, các hộ chăn nuôi lỗ nặng 1-1,5 triệu đồng/con, thì với mức bán tại chợ từ 75.000 - 90.000đ/kg trung gian lãi khủng 3 - 3,5 triệu đồng/con.

    - Hội nhập chăn nuôi gặp nhiều trở ngại: bên cạnh những thuận lợi thì các thách thức đặt ra khi nước ta hội nhập và kỷ nguyên khoa học công nghệ 4.0, cũng như biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường, đô thị hóa đối với khu vực chăn nuôi nông hộ cũng không hề nhỏ đó là: khi thuế giảm, tăng nhập khẩu thì cạnh trạnh về chất lượng, thương hiệu, nguồn gốc xuất xứ. Yêu cầu đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, môi trường ngày càng cao. Chính vì vậy, chi phí sản xuất tăng, dẫn đến giá thành sản phẩm tăng, khó cạnh tranh với các nước trong khu vực. Cụ thể: tại thời điểm ngày 15/7/2018 giá lợn hơi Trung Quốc 42.000 - 45.000đ/kg lợn hơi, tại Thái Lan chỉ bán 36.000 - 38.000đ/kg lợn hơi, trong khi đó Việt Nam có giá 48.000 - 52.000đ/kg.

    - Tầm vóc, chất lượng con giống còn nhiều hạn chế, giao phối cận huyết trên đàn trâu, bò còn nhiều.

    - Hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới; củng cố phát triển kinh tế hợp tác, đẩy mạnh phát triển các loại hình kinh tế trang trại theo Luật HTX sửa đổi năm 2012, liên kết sản xuất chăn nuôi theo chuỗi, thu hút đầu tư tư nhân, phát triển doanh nghiệp còn nhiều hạn chế.

    - Các chính sách phát triển chăn nuôi của Trung ương và của tỉnh đã có tác động lớn đến phát triển sản xuất; tuy nhiên do nguồn lực để thực hiện chính sách còn hạn chế, nên đã ảnh hưởng đến hiệu lực của chính sách và niềm tin của người chăn nuôi.

     

    III. Giải pháp nâng cao hiệu quả chăn nuôi:

    1. Giải pháp về giống:

    - Tăng cường công tác giống vật nuôi; Tổ chức triển khai việc thực hiện các quy định về quản lý giống vật nuôi, điều kiện chăn nuôi của các tổ chức cá nhân chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn Tỉnh, chú trọng các cơ sở sản xuất, kinh doanh con giống.

    - Tiếp tục triển khai các chương trình cải tạo giống trâu, bò: Thực hiện TTNT cải tiến giống bò theo hướng Zêbu hóa, lai cải tiến giống trâu bằng TTNT tinh trâu Murah với trâu nội ở vùng đồng bằng và vùng núi thấp; hỗ trợ mua trâu, bò đực giống nhảy trực tiếp (vùng miền núi).

    - Cải tiến đàn lợn theo hướng nạc hóa theo hai phương thức: nhập đàn lợn ngoại và lai cải tiến các giống lợn ngoại với các giống lợn hiện có để nâng cao tầm vóc đàn lợn. Hỗ trợ tinh phục vụ thụ tinh nhân tạo.

    - Phát triển chăn nuôi trâu, bò theo hướng hàng hóa chất lượng cao, nhập giống bò ngoại sinh sản cung cấp giống bò thịt cao sản. Xây dựng và triển khai đề án mô hình chăn nuôi bò thịt cao sản, mô hình chăn nuôi bò vỗ béo.

    - Phát triển chăn nuôi gắn với an toàn thực phẩm,tổ chức sản xuất khép kín, liên kết giữa các khâu trong chuỗi giá trị để giảm chi phí; hướng dẫn người chăn nuôi tự phối trộn thức ăn, chế biến thức ăn chăn nuôi bằng những nguyên liệu phụ phẩm nông nghiệp để hạ giá thành sản phẩm.

    - Khuyến khích chăn nuôi các giống bản địa để tăng sức cạnh tranh như: gà ác, lợn đen, vịt bầu quỳ, dê...

    2. Đẩy mạnh công tác quản lý dịch bệnh, an toàn vệ sinh thực phẩm trong chăn nuôi:

    - Tiếp tục chỉ đạo các biện pháp phòng, chống dịch có hiệu quả; Kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn tỉnh.

    - Tuyên truyền người chăn nuôi không sử dụng chất cấm, kháng sinh trong chăn nuôi; xây dựng thương hiệu sản phẩm sạch để tăng tính cạnh trạnh như: gà đồi Thanh Chương, me Nam Nghĩa, Vịt bầu Quỳ Châu...

    3. Giải pháp ứng dụng công nghệ cao trong chăn nuôi:

    Tổ chức, triển khai thực hiện Quyết định số 14/QĐ-UBND, ngày 03/01/2018 V/v  Quy hoạch vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh Nghệ An đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; đẩy mạnh công tác chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật đến người chăn nuôi, nhất là các giải pháp kỹ thuật về ứng dụng kỹ thuật - công nghệ cao trong công tác giống, thức ăn, quản lý, liên kết chăn nuôi tiêu thụ sản phẩm nhằm tăng năng suất, giảm giá thành sản xuất; sử dụng các trang thiết bị hiện đại, nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi như hệ thống chuồng kín, hệ thống máng ăn, máng uống nước tự động, hệ thống xử lý môi trường, các chế phẩm sinh học dùng trong chăn nuôi để tăng năng suất, giảm ô nhiễm môi trường chăn nuôi.

    Nâng cao chất lượng quy hoạch gắn nghiên cứu thị trường, từng bước hạn chế chăn nuôi theo phong trào, tự phát. Nhằm đưa giá trị sản phẩm chăn nuôi ứng dụng kỹ thuật - công nghệ cao đạt trên 45% tổng giá trị chăn nuôi trên địa bàn;

    Chú trọng việc ứng dụng kỹ thuật - công nghệ cao trong chăn nuôi, trong giết mổ, sơ chế, bảo quản sản phẩm gia súc, gia cầm, truy xuất nguồn gốc sản phẩm chăn nuôi; xây dựng cơ chế chính sách về quảng bá, xây dựng thương hiệu, tìm kiếm đối tác cho các sản phẩm chăn nuôi công nghệ cao chủ lực trên cơ sở Nhà nước đồng hành doanh nghiệp và người chăn nuôi.

    4. Giải pháp vềxử lý môi trường chăn nuôi:

    - Khuyến khích các trang trại chăn nuôi vừa và nhỏ xử lý chất thải trong chăn nuôi bằng công nghệ khí sinh học, sử dụng men vi sinh giảm thiểu ô nhiễm môi trường: Đối với các trang trại chăn nuôi lớn như trang trại chăn nuôi bò sữa TH True milk, trang trại chăn nuôi lợn ngoại Thái Dương tiếp tục sử dụng biện pháp xử lý chất thải bằng hệ thống hầm Biogas theo công nghệ mới nhất của nước ngoài, chất liệu hầm được thiết kế từ màng chống thấm HDPE. Đối với các trang trại chăn nuôi vừa và nhỏ khuyến cáo sử dụng bể Biogas hoặc đệm lót sinh học để xử lý môi trường.

    Đối với các hộ gia đình nhỏ lẻ yêu cầu xử lý chất thải chủ yếu bằng cách sử dụng hố ủ phân hữu cơ để làm phân bón cho cây trồng.

    5. Nâng cao hiệu quả xây dựng và triển khai mở rộng các mô hình liên kết chuỗi, mô hình kinh tế

    - Ưu tiên các chương trình, dự án đầu tư giống vật nuôi chất lượng cao: bò sữa, bò thịt, lợn ngoại hướng nạc và các chương trình lai cải tiến giống vật nuôi như: cải tiến trâu bò theo hướng Zêbu hóa, cải tiến giống lợn theo hướng nạc hóa;

    - Huy động các nguồn lực địa phương cho các dự án quy mô nhỏ được thực hiện tại địa phương; Mở rộng mô hình chăn nuôi áp dụng quy trình VietGAHP, hình thức tổ chức GAHP, chú trọng đầu tư xây dựng và nhân rộng các mô hình kinh tế: vỗ béo bò thịt, gà thả vườn, chăn nuôi giống bản địa: gà ác, vịt bầu quỳ, lợn nít, lợn đen...

    - Xây dựng trang trại bò thịt, trại bò sinh sản theo quy mô công nghiệp tập trung thu hút vốn đầu tư nước ngoài...

                                              

    CHI CỤC CHĂN NUÔI VÀ THÚ Y

 

Nghe nhạc