Trang TTĐT Sở NN&PTNT Nghệ An

thông tin chi tiết

  • Chế biến chè Nghệ An thực trạng và giải pháp phát triển
    06/08/2018 15:41
  • Cây chè đã được xác định là một trong mười cây trồngchủ lực, mang lại giá trị kinh tế, là một trong những mặt hàng xuất khẩu đem lại ngoại tệ cho tỉnh Nghệ An
  • Thực trạng chế biến của ngành chè Nghệ An:

    Cây chè đã được xác định là một trong mười cây trồngchủ lực, mang lại giá trị kinh tế, là một trong những mặt hàng xuất khẩu đem lại ngoại tệ cho tỉnh Nghệ An.Ngoài giá trị về kinh tế, cây chè còn có vai trò che phủ đất trống đồi núi trọc và bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển du lịch, một trong những vấn đề nhiều quốc gia quan tâm. Hiện nay, Nghệ An đã xây dựng được vùng nguyên liệu chè công nghiệp với diện tích hơn 7.138 ha trong đó diện tích chè kinh doanh vào khoảng 6.057 ha.

     

    Sản phẩm chè Nghệ An đang dần khẳng định được thương hiệu và có vị trí vững chắc trong ngành chè cả nước cũng như chinh phục được một số thị trường trên thế giới như các nước Trung Đông, EU, ASEAN, Mỹ, Nga, Đài Loan,...

     

     

    Chè Nghệ An đang khẳng định thương hiệu

     

    Tuy vậy, thực trạng sảng xuất và chế biến chè ở Nghệ An hiện nay còn một số bất cập, như: Việc thu hái và cung cấp nguyên liệu chè tươi cho các cơ sở chế biến, trang thiết bị chế biến ... Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, để sản xuất ra sản phẩm đạt chất lượng thì chè phải thu hái theo tiêu chuẩn 1 tôm 2-3 lá, tiêu chuẩn này, ngoài đảm bảo chất lượng nguyên liệu chè đưa vào chế biến thì đồng thời cũng giúp cho cây chè sinh trưởng, phát triển tốt. Nhưng do việc đầu tư phát triển các cơ sở chế biến chè một cách ồ ạt trong thời gian qua đã phá vỡ tính cân bằng, các cơ sở chế biến chè của Nghệ An cạnh tranh lẫn nhau không lành mạnh. Cạnh tranh trong thu mua nguyên liệu của các cơ sở chế biến là một điều đáng mừng, bởi khi các nhà máy cạnh tranh sẽ đẩy giá chè lên cao, làm tăng thu nhập cho các hộ dân trồng chè. Tuy nhiên, để đáp ứng nguyên liệu cho nhiều cơ sở chế biến cùng lúc hoạt động (48 cơ sở trên địa bàn toàn tỉnh) các hộ dân trồng chè đã sử dụng máy hái chè để thu hoạch chè tươi nguyên liệu (tức là thu hái 1 tôm 3-5 lá thậm chí cả những cành chè dài 15-20cm) để nhập cho các cơ sở chế biến.

     

    Bên cạnh đó, đầu tư nhà xưởng, thiết bị trong ngành chế biến chè cũng rất bất cập, đặc biệt là các cơ sở chế biến chè thủ công quy mô hộ gia đình. Để đầu tư 1 dây chuyền chế biến chè đồng bộ từ nhà xưởng, thiết bị đảm bảo tiên tiến nhằm tạo ra sản phẩm chất lượng đòi hỏi phải 15-20 tỷ đồng/dây chuyền. Trong lúc cơ sở chế biến nhỏ chỉ đầu tư từ 1-2 tỷ đồng, có nhiều cơ sở đầu tư dưới 1 tỷ đồngvẫn cho ra sản phẩm chè khô. Vốn đầu tư trang thiết bị, nhà xưởng, vốn lưu động để thu mua nguyên liệu của người dân chủ yếu huy động từ vốn vay. Nhưng để bán được sản phẩm làm ra thì các cơ sở chế biến chè phải chấp nhận cho các cơ sở thu mua nợ tiền bán sản phẩm trong lúc tiền mua nguyên liệu phải trả cho người dân. Để duy trì hoạt động chủ cơ sở phải tiếp tục vay nợ, với tiềm lực kinh tế kém, các chủ cơ sở này sẽ gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là trong điều kiện gặp biến động bất thường của thị trường chè. Với số tiền đầu tư đó người dân chỉ có thể đầu tư nhà xưởng, thiết bị đơn giản, sản phẩm chè khô dừng lại ở công đoạn sơ chế và tiêu thụ sản phẩm thô, nên giá trị không cao.

     

    Để nâng cao chất lượng,  giá trị và hiệu quả từ sản xuất, chế biến chè, thiết nghĩ cần quan tâm một số giải pháp:

     

    1. Chú trọng nâng cao tính hiệu quả trong việc thu hái chè bằng máy

     

    Hiện nay, ngành chè cả nước nói chung và ngành chè Nghệ An nói riêng hầu hết đều sử dụng máy hái chè để thu hoạch chè tươi nguyên liệu. Không thể phủ nhận hiệu quả của việc sử dụng máy hái chè thời gian qua đã nâng cao năng suất lao động trong khâu thu hái, bình quân trong 8h làm việc 1 máy hái chè có thể hái được 400-600kg chè búp, tương đương với khoảng 12-18 nhân công hái bằng tay. Tuy nhiên nếu thu hoạch nguyên liệu bằng máy không đúng quy cách không chỉ làm giảm chất lượng nguyên liệu mà còn có nguy cơ dẫn đến kiệt quệ cây chè, làm giảm tuổi thọ vườn chè. Ví dụ như, vụ xuân là thời gian cần nuôi tán lấy lá, để cây quang hợp thì không nên hái bằng máy mà chỉ dùng tay hái những búp đủ tiêu chuẩn nhằm kích thích mầm nhánh phát triển. Mặc dù vậy, các hộ dân trồng chè đều dùng máy hái chè để thu hái trong tất cả các vụ quanh năm.

     

     

    Hầu hết người dân chưa nắm vững hoặc chưa quan tâm đến kỹ thuật hái chè bằng máy

     

    2. Tiếp tục cảnh báo, giám sát việc sử dụng thuốc BVTV trên tất cả các vùng nguyên liệu chè

     

    Dư lượng thuốc BVTV, kim loại nặng tồn dư trong sản phẩm chè cũng cần được kiểm soátchặt chẽ. Hiện nay vùng chè nguyên liệu của Nghệ An đang cơ bản giám sát được dư lượng thuốc BVTV,nhưng với việc chạy theo lợi nhuận của một bộ phận người dân trồng chè,sẽ không thể đảm bảo trong thời gian tới người dân sẽ không sử dụng thuốc BVTV, chất điều hoàsinh trưởng một cách tràn lan gây hệ lụy cho cả vùng chè và phá vỡ thương hiệu chè Nghệ An đã duy trì được trong thời gian qua.Do vậy, phải thường xuyênlấy mẫu giám sát nguyên liệu, sản phẩm chế biến để đảm bảo độ an toàn thực phẩm trong chè. Kịp thời cảnh báo cho các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương cũng như người dân trồng chè. Tránh tình trạng một vài hộ không tuân thủ việc sử dụng thuốc BVTVđể tồn dư chất cấm, hóa chất vượt ngưỡng trong sản phẩm làm ảnh hưởng tới toàn ngành sản xuất chè của tỉnh.

     

    3. Tiếp tục khẳng định vai trò QLNN trong sản xuất, chế biến

     

    Tăng cường công tác tuyên truyền, tập huấn để người dân chăm sóc, khai thác và phát triển vùng nguyên liệu một cách bền vững. Cơ quan chức năng cần tăng cường công tác quản lývề giống,thuốcBVTV, chất điều hoà sinh trưởng; tránh tình trạng cây giống không đạt tiêu chuẩn, sinh trưởng yếu, cho năng suất thấp; sử dụng thuốc BVTV, chất điều hoà sinh trưởng tràn làn không theo quy định.

     

    Hiện nay nhiều cơ sở chế biến chè đã phải đóng cửa một phần là do trước đây các cơ sở chế biến chè phát triển quá ồ ạt, không có quy hoạch dẫn đến các cơ sở thiếu vốn hoạt động, không cạnh tranh được nguyên liệu, dây chuyền sản xuất lạc hậu. Nếu như năm 2015 có đến 68 cơ sở sản xuất chế bến chè thì năm 2018 chỉ còn 48 cơ sở còn hoạt động. Do vậy, đối với các địa phương cần cân nhắc khi cấp giấy phép kinh doanh cho các đơn vị, cá nhân đầu tư chế biến chè tại địa bàn; đối với cơ quan chuyên môn các cơ sở chế biến không đủ điều kiện, không có các biện pháp khắc phục cụ thể, sản phẩm chè khô không đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm cần nghiêm khắc xử lý.

     

    Định hướng đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030 của tỉnh Nghệ An thì cây chè vẫn được xác định là cây mũi nhọn để phát triển kinh tế tỉnh nhà. Để thực sự đưa ngành chè phát triển một cách đồng bộ, bền vững, các cấp, ngành địa phương, các đơn vị, cá nhân tham gia sản xuất, chế biến cần phải quan tâm hơn nữa để khắc phục những yếu kém đang tồn tại./.

                                                                                                    Lê Hữu Tiệp - Chi cục QLCL

 

Nghe nhạc