Trang TTĐT Sở NN&PTNT Nghệ An

thông tin chi tiết

  • Công tác quản lý thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y trên địa bàn tỉnh Nghệ An: Thực trạng và giải pháp trong thời gian tới
    18/06/2018 16:47
  • Thức ăn chăn nuôi (TACN) đóng vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp thực phẩm, đây cũng là nhân tố lớn nhất, quan trọng nhất đảm bảo nguồn protein từ động vật phong phú, an toàn và có giá trị cao.
  • Vai trò của thuốc thú y (TTY) là nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, ngăn chặn dịch bệnh nhằm bảo vệ và phát triển ngành chăn nuôi, cung cấp các sản phẩm từ vật nuôi có chất lượng cao phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu, bảo vệ sức khỏe con người và môi trường sinh thái. Đây là 2 yếu tố đầu vào quyết định chất lượng sản phẩm, trong quá  trình sử dụng  nếu tuân thủ  đúng quy trình và đảm bảo chất lượng thì tạo ra sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng, ngược lại việc sử dụngkhông đúng quy định, sử dụng chất cấm, tạo nạc, tạo màu như Sabutamol, Clenbuterol, Vàng ô và  Cysteamine trộn lẫn vào thức ăn chăn nuôi sẽ gây nên tăng tỷ lệ bệnh rối loạn nội tiết, bệnh ung thư cho con người hoặc việc sử dụng kháng sinh một cách bừa bãi ở mức đáng báo động sẽ gây nên hiện tượng kháng kháng sinh, hiện nay mỗi năm trên thế giới có từ 200.000-300.000 người mắc bệnh kháng kháng sinh và dự báo năm 2050 mỗi năm có trên 10 triệu người chết do mắc bệnh kháng kháng sinh nhiều hơn cả tai nạn giao thông và các bệnh truyền nhiễm khác.

     

    Bên cạnh đó tình trạng sản xuất, kinh doanh, sử dụng TACN, TTY không bảo đảm chất lượng; hàng giả, hàng nhái, chất cấm...còn xảy ra ở nhiều địa phương với diễn biến phức tạp, gây thiệt hại cho người chăn nuôi, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và an toàn thực phẩm.

     

    Với tầm quan trọng đó việc quản lý chặt chẽ các mặt hàng thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y nhập khẩu, sản xuất, kinh doanh, sử dụng là hết sức cần thiết, do vậy đòi hỏi các cấp chính quyền, cơ quan chuyên môn cần phải tăng cường chỉ đạo và tiếp tục có các giải pháp hữu hiệu trong công tác quản lý nhà nước về TACN, TTY.

     

    I. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, KINH DOANH, SỬ DỤNG TACN, TTY VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

     

    1. Về sản xuất, kinh doanh, sử dụng TACN gia súc, gia cầm

     

    Theo Nghị định số 39/2017/NĐ-CP thì TACN gồmTACN thương mại, TACN sản xuất để tiêu thụ nội bộ và TACN sản xuất theo tập quán. Trong đó:

    - TACN thương mại được các nhà máy phối trộn theo một công thức nhất định và kinh doanh, buôn bán ở trên thị trường (gồm 2 loại là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn đậm đặc). Đối với thức ăn thương mại thì các nhà máy sản xuất đều phải công bố tiêu chuẩn cơ sở, công bố hợp quy và đăng ký thủ tục để được Bộ Nông nghiệp & PTNT cho phép lưu hành sản phẩm;

    - TACN để tiêu thụ nội bộlà các sản phẩm TACNdo các cơ sở hoặc cá nhân tự phối trộn dùng cho nhu cầu chăn nuôi của nội bộ cơ sở, không trao đổi và mua bán trên thị trường(ví dụ thức ăn của các công ty: CP, Golden star, Thái Dương, Japfa ...;

    - TACN theo tập quán là các sản phẩm nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp chế biến đã được người chăn nuôi sử dụng từ trước đến nay như: Cám, ngô, khoai, sắn, bã rượu, bã bia, bã sắn, bã dứa, rỉ mật đường, rơm, cỏ, tôm, cua, cá và các loại khác.Đây là loại TACN khó quản lý nhất vì sản xuất tự phát và theo tập quán.

    Trên địa bàn tỉnh Nghệ An hiện có 6 nhà máy sản xuất TACN bao gồm Cargill, Anco, Mavin Austfeed, Đặc Khu Hope, Golden Star và Con Heo Vàng; gần 1.000 đại lý, cơ sở kinh doanh TACN của hơn 60 thương hiệu với hàng nghìn mã sản phẩm đang lưu thông trên địa bàn toàn tỉnh. Hàng nămsố lượng TACNbán ra thị trường trong tỉnh ước tính trên 50 nghìntấn/năm, trị giá hàng trăm tỷ đồng. Cơ bản đáp ứng nhu cầu về TACN công nghiệp cho người chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàntỉnh.

     

    2. Về kinh doanh, sử dụng thuốc thú y:

     

      Thuốc thú ylà gì? Thuốc thú ylàđơn chất hoặc hỗn hợp các chất bao gồm dược phẩm, vắc-xin, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, hóa chất được phê duyệt dùng cho động vật nhằmmục đíchphòng bệnh, chữa bệnh, chẩn đoán bệnh, điều chỉnh, phục hồi chức năng sinh trưởng, sinh sản của động vật.

     - Về kinh doanh TTY: Toàn tỉnh có 299 cơ sở buôn bán thuốc thú y, thú y thủy sản của trên 50 công ty sản xuất, phân phối với hơn một nghìn loại thuốc có trong danh mục thuốc thú y được phép lưu hành và hàng trăm loại thuốc nhập khẩu. Cơ sở kinh doanh thuốc thú y chủ yếu ở quy mô nhỏ lẻ, phân tán, phần lớn các cơ sở chưa mạnh dạn đầu tư trang thiết bị bảo quản làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.

    - Về sử dụng TTY: Tính đến nay trên địa bàn tỉnh Nghệ An có khoảng 315 trang trại chăn nuôi tập trung và khoảng 517.159 hộ gia đình có hoạt động chăn nuôi. Trong đó, chăn nuôi lợn có khoảng 319.676 hộ, chăn nuôi gia cầm khoảng  413.727 hộ, chăn nuôi trâu, bò khoảng 383.611 hộ, với tổng đàn hơn 22 triệu con gia cầm, gần 900 nghìn con lợn và hơn 700 nghìn con gia súc. Hàng năm để phòng, trị bệnh cho gia súc, gia cầm hầu như các trang trại và hộ chăn nuôiđều sử dụng TTY.

     

    3. Tình hình quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh TACN, TTY trên địa bàn tỉnh Nghệ An

     

    Sau khi thành lập phòng và được giao nhiệm vụ quản lý TACN, TTY (từ tháng 5/2016 đến nay) Phòng quản lý Thuốc và TACN đã triển khai thực hiện các nội dung và kết quả đạt được như sau:

    3.1. Về tham mưu: Chú trọng việc nắm chắc tình hình thực tế cơ sở, chọn nội dung trọng điểm để tham mưu, cụ thể đãtham mưu quản lý, giám sát việc sử dụng chất cấm trong chăn nuôi; về việc tăng cường quản lý TACN, TTY trong từng thời điểm; về sử dụng kháng sinh trong TACN gia súc, gia cầm. Trực tiếp xây dựng kế hoạch và triển khai tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm tra chất lượng TACN, TTY và chất cấm trong chăn nuôi được Sở NN&PTNT phê duyệt.

    3.2. Thống kê cơ sở sản xuất, kinh doanh TACN, TTY theo Thông tư số 45/2014/TT-BNNPTNT được hơn 1.000 cơ sở. Trong đó kiểm tra, đánh giá và xếp loại cho 92 cơ sở (Loại A: 5 cơ sở, Loại B: 87 cơ sở).

    3.3. Về công tác tuyên truyền, phổ biến quy định của pháp luật trong sản xuất, kinh doanh, sử dụng TACN, TTY: Ngoài kênh tuyên truyền, hướng dẫn thông qua các văn bản, còn chú trọng việc tuyên truyền trực tiếp thông qua đợt tập huấn và các đợt kiểm tra, hướng dẫn tại cơ sở .Từ đó đã giúp các tổ chức, cá nhân hiểu biết đầy đủ hơn quy định của pháp luật trong sản xuất, kinh doanh, sử dụng TACN, TTY và biết cách khắc phục các tồn tại của cơ sở.

    3.4.Về thực hiện thủ tục hành chính: Trong thời gian qua đã kiểm tra, thẩm định và cấp đổi 112 Chứng chỉ hành nghề và 156 Giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán thuốc thú y; 27 bản tiếp nhận Bản công bố hợp quy cho 06 nhà máy sản xuất TACN tại Nghệ An; xác nhận nội dung quảng cáo sản phẩm cho 5 công ty kinh doanh TTY và 3 công ty kinh doanh TACN.

    3.5. Kiểm tra, giám sát chất lượng, chất cấm trong chăn nuôi: Thực hiện tại 56 cơ sở kinh doanh TTY, TACN và trang trại chăn nuôi. Tiến hành lấy 88 mẫu thuốc thú y, thức ăn chăn nuôi gửi kiểm nghiệm các chỉ tiêu về chất lượng(Kết quả có 05 sản phẩm vi phạm về chất lượng và đã được xử lý theo quy định). Lấy  90 mẫu nước tiểu test nhanh và có kết quả âm tính với chất cấm Salbutamol, 16 mẫu TACN gửi phân tích đều không phát hiện chất cấm Salbutamol và Clenbuterol.

              3.6. Xử lý vi phạm hành chính: Qua quá trình kiểm tra thường xuyên, lấy mẫu giám sát chất lượng, chất cấm và hàm lượng kháng sinh đã phát hiện, xử lý 17 trường hợp vi phạm về kinh doanh TACN, TTY với tổng số tiền phạt là 95.500.000 đồng. Đặc biệt xử lý vi phạm hành chính nghiêm đối với các trường hợp buôn bán TTY và TACN có kết quả xét nghiệm mẫu hàm lượng không đảm bảo theo đúng quy định

     

    4. Đánh giá chung:

     

    4.1. Ưu điểm:

     

    - Công tác quản lý sản xuất, kinh doanh TACN, TTYđược tăng cường, việc cấp chứng chỉ hành nghề thú y được siết chặt và đảm bảo đúng quy định; số cơ sở kinh doanh TTY được đưa vào quản lý, kiểm tra, chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh được nâng lên; việc tổ chức tiếp nhận, quản lý công bố hợp quyTACNthực hiệnchặt chẽ đúng quy định.

    - Kiểm tra chất lượngTACN, TTY tiếp tục được phát huy và có hiệu quả;

    - Quản lý lưu hành TACN, TTY: Đã bám sát Danh mục TTY, TACNđược phép lưu hành, cấm sử dụng ở Việt Nam để kiểm tra, phát hiện và xử lý các trường hợp vi phạm.

    - Công tác tuyên truyền, kiểm tra, hướng dẫn thực hiện quy định của pháp luật trong sản xuất, kinh doanh, sử dụng TACN, TTY ngày càng sát thực tiễn và phát huy hiệu quả.

    - Việc quảng cáo TACN, TTY trên địa bàn tỉnh của các tổ chức, cá nhân được quản lý chặt chẽ hơn.

    Như vậy nhờ tăng cường công tác quản lý sản xuất, kinh doanh TACN, TTY trên địa bàn, các tổ chức, cá nhân  liên quan đã nâng cao hiểu biết và chấp hành tốt hơn các quy định của pháp luật. Nhiều cơ sở đã đầu tư kinh phí nâng cấp điều kiện đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm TACN, TTY trong kinh doanh; đặc biệt các chất cấm trong chăn nuôi được kiểm soát chặt chẽ; việc sản xuất, kinh doanh TACN, TTY giả, kém chất lượng được ngăn chặn kịp thời.

     

    4.2. Tồn tại, nguyên nhân

    4.2.1. Tồn tại:

    Bên cạnh những kết quả đã đạt được, vẫn còn tồn tại như sau:

    - Một số cơ sở sản xuất, kinh doanh TACN, TTY kém chất lượng, mất an toàn thực phẩm, hàng giả, hàng nhái, sản phẩm chưa được phép lưu hành...;. Các cơ sở hầu như chưa cập nhật được Danh mục TACN, TTY được phép lưu hành nên vẫn còn tình trạng người dân sử dụng sản phẩm ngoài danh mục.

    - Còn tồn tại nhiều cơ sở kinh doanh nhỏ lẻ, kinh doanh nhiều mặt hàng lẫn lộn, cơ sở hạ tầng xuống cấp nhưng không chịu đầu tư, tu sửa. Nhận thức về pháp luật còn hạn chế, không chú trọng vào công việc bảo đảm chất lượng cho sản phẩm mình kinh doanh. Một số cơ sở còn mang hình thức đối phó, khi có cơ quan kiểm tra nhắc nhở thì chấp hành tốt nhưng được một thời gian lại vi phạm.

    - Việc sử dụng vắc xin (đặc biệt là vắc xin gia súc) tại trang trại, gia trại được cung cấp từ nhiều nguồn theo chương trình khuyến mại kèm theo TACN, TTY và mua trực tiếp từ các công ty nên khó quản lý. Việc bảo quản vắc xin lại cơ sở đang là một vấn đề đáng lo ngại và báo động, làm mất hiệu giá kháng thể của vắc xin.

     - Người chăn nuôi ngày càng lạm dụng thuốc kháng sinh để phòng và trị bệnh gây ra tình trạng kháng kháng sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật kháng thuốc xuất hiện, biến đổi và lây lan.

    Thực trạng trên vẫn còn xảy ra và đang là nỗi lo, là bức xúc của nhân dân và ảnh hưởng nhiều đến việc tăng sản lượng và giá trị các loại sản phẩm hàng hóa của ngành chăn nuôi nói riêng và ngành nông nghiệp tỉnh ta nói chung.

     

    4.2.2. Nguyên nhân:

     

    - Nhận thức của người kinh doanh, sử dụng TACN,  TTY còn hạn chế, nhất là về sử dụng kháng sinh và vắc xin.Người tiêu dùng còn dễ dãi chấp nhận dùng các sản phẩm không rõ nguồn gốc, kém chất lượng giá rẻ. Người sản xuất, kinh doanh vì ham lợi nhuận mà coi thường sức khỏe người tiêu dùng;

    - TTY, TACN nằm trong danh mục cho phép lưu hành quá lớn (11.000 mã sản phẩm TTY và hơn 20.000 mã sản phẩm TACN); Trên địa bàn tỉnh có 315 trang trại chăn nuôi tập trung và khoảng 517.159 hộ gia đình có hoạt động chăn nuôi. Trong đó, chăn nuôi lợn có khoảng 319.676 hộ, chăn nuôi gia cầm khoảng  413.727 hộ, chăn nuôi trâu, bò khoảng 383.611 hộ, với tổng đàn hơn 22 triệu con gia cầm, gần 900 nghìn con lợn và hơn 700 nghìn con gia súc; trên 1.100 cửa hàng kinh doanh TTY, TACN phân bố rải rác ở khắp các địa phương nên rất khó quản lý.

    - Việc xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm cũng không đơn giản khi lực lượng chức năng còn mỏng, không có đủ cán bộ chuyên môn để thực hiện nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra tất cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh, sử dụng TACN, TTY trên địa bàn tỉnh;

    - Trang thiết bị trong quá trình thanh tra, kiểm tra còn thiếu, những thử nghiệm cho kết quả ngay (test nhanh) thì không đủ cơ sở pháp lý để xử phạt và xử lý ngay còn phải chờ kết quả chính thức (kết quả gửi thử nghiệm tại các trung tâm được Bộ NN&PTNT chỉ định - thường dài ngày) thì sản phẩm đã tiêu thụ hết;

    - Kinh phí phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra sản xuất, kinh doanh, sử dụng TACN, TTY còn hạn chế.

     -Một số quy định trong văn bản quy phạm pháp luật và văn bản khác còn bất cập, điều chỉnh, bổ sung không kịp thời để thống nhất đồng bộ làm ảnh hưởng đến việc hướng dẫn thực hiện theo quy định;

     

    II. GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚI

     

    1. Giải pháptham mưu:

     

    Tham mưu đầy đủ, kịp thời cho UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và PTNT ban hành các văn bản chỉ đạo công tác Quản lý TACN, TTYsát tình hình thực tế, có tính khả thi cao.

     

    2. Giải pháp về quản lý hoạt độngsản xuất, kinh doanh, sử dụng TACN, TTY tại các cơ sở:

     

    - Quản lý chặt hoạt động hành nghề thú y; Đối với hành nghề buôn bán TTY: Rà soát, thống kê đưa tất các các cơ sở vào quản lý; nếu cơ sở nào không đáp ứng yêu cầu theo quy định thì nhất quyết không cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán TTY.

    - Quản lý chất lượng sản phẩm thuốc thú y và thức ăn chăn nuôi: Tăng cường tổ chức lấy mẫu giám sát, phân tích các chỉ tiêu về chất lượng, độc tố nấm mốc, kim loại nặng, chất cấm, kháng sinh …

    -  Quản lý các sản phẩm được phép lưu hành trên thị trường: Thường xuyên cập nhật thông tin trên cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp & PTNT để phát hiện và xử lý sớm các sản phẩm chưa được phép lưu hành.

    - Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, đặc biệt là thanh tra, kiểm tra đột xuất nhằm kiểm soát hiệu quả thị trường TACN, TTY; Xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm

    - Kiểm soát việc quảng cáo các loại TTY, TACN trên địa bàn

     

    3. Giải pháp về tuyên truyền, phổ biến pháp luật:

     

    -Tổ chức bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ, công chức ngành Chăn nuôi và Thú y trong hoạt động kiểm tra, giám sátchất lượng, an toàn thực phẩm TACN, TTY

    - Tăng cường hướng dẫn quy định của pháp luật trong sản xuất, kinh doanh cho các chủ cơ sở liên quan vềviệc tuân thủ các quy định về sản xuất và lưu thông sản phẩm đúng theo tiêu chuẩn chất lượng đã công bố hoặc đã được chứng nhận hợp quy.

    - Tuyên truyền, vận động tới từng hộ chăn nuôi, chủ trang trại biết lựa chọn những sản phẩm chất lượng, cần quan tâm đến nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm; thời hạn sử dụng; các chỉ tiêu dinh dưỡng và chỉ tiêu liên quan ghi trên nhãn hàng hóa. Nói không với sản phẩm không đảm bảo an toàn.

     

    4. Giải pháp về kinh phí:

     

    - Đề xuất chính sách hỗ trợ cho các tổ chức, cá nhân tham gia sản xuất, kinh doanh sản phẩm đảm bảo chất lượng và an toàn thực phẩm.

    - Đầu tư kinh phí tập huấn cho các hộ chăn nuôi, đặc biệt là các cơ sở chăn nuôi lớn. Các chính sách về hỗ trợ vắc xin phòng bệnh để hạn chế dịch bệnh, người dân yên tâm không lo lắng dịch bệnh, không dùng kháng sinh để làm liều phòng, dần dần bỏ thói quen dùng kháng sinh để phòng bệnh.

    - Bổ sung thêm kinh phí hoạt động kiểm tra, lấy mẫu giám sát chất lượng, an toàn TACN, TTY và chất cấm trong chăn nuôi./.

     

    PHÒNG QUẢN LÝ THUỐC VÀ TACN - CHI CỤC CHĂN NUÔI VÀ THÚ Y NGHỆ AN

 

Nghe nhạc