Trang TTĐT Sở NN&PTNT Nghệ An

thông tin chi tiết

  • Biện pháp nuôi tôm thẻ chân trắng không sử dụng kháng sinhv à hạn chế hóa chất
    17/05/2017 10:02
  • Trước một số khó khăn trong nuôi tôm thẻ chân trắng như diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu, hiện tượng ElNino, LaNina và việc một số hộ dân nuôi tôm theo phương thức cũ lạm dụng kháng sinh và hoá chất trong quá trình nuôi. Vừa qua Sở NN&PTNT đã ban hành “quy trình tạm thời nuôi tôm thẻ chân trắng không sử dụng kháng sinh và hạn chế hoá chất”.
  • Theo đó đối với hệ thống ao nuôi cần có Ao chứa nước 1 ao, Diện tích từ 1500 - 2000 m2; Ao nuôi 1 ao, Diện tích từ 2000 - 3000 m2; Ao chứa bùn thải khuyến khích  1 ao hoặc 2-3 hộ chung 1 ao, Diện tích từ 200 - 500 m2. Công tác chuẩn bị ao nuôi và ao chứa nước tiến hành theo ba bước: Bước 1: Tháo cạn nước ao nuôi và ao chứa. Loại bỏ các địch hại có trong ao (tôm, cua, ốc, côn trùng, cá tạp…). Vét bùn đáy ao, tu sửa bờ, các cống cấp nước, thoát nước. Bước 2: Đối với ao nền đất bón vôi bột nông nghiệp và phơi đáy ao từ 20 - 30 ngày. Số lượng vôi từ 3 - 3,5 tấn/ha. Bước 3: Đối với ao đất: Bừa kỹ cho vôi ngấm vào đáy để diệt hết tôm, cua, còng, ốc, côn trùng, cá tạp còn sót lại, diệt khuẩn trong bùn, giải độc (kim loại nặng, H2S) và trung hòa pH.  Riêng với ao lót bạt cần vệ sinh khử trùng, rửa sạch ao và rải vôi CaO hòa nước sệt tưới vào các kẽ bạt.

     

    Lưu ý:Tốt nhất bón 50% vôi bột CaCO3 và 50% dolomit CaMg(CO3). Đối với ao lót bạt chủ yếu bón dolomit [CaMg(CO3)] cho đến khi đo độ kiềm đạt theo tiêu chuẩn thả.

     

     

    Đ/c: Hoàng Nghĩa Hiếu- Giám đốc Sở NN và PTNT nghệ an thăm ao nuôi tôm của anh Ngfoo Xuân Đại, xã Diễn Trung Huyện Diễn châu

     

    Công tác lấy nước và xử lý nước thực hiện theo bốn bước:Bước 1: Lấy nước vào ao chứa qua túi lọc bằng vải dày nhằm loại bỏ rác, ấu trùng, tôm, cua, còng, ốc, côn trùng, cá tạp. Để ổn định 3 - 7 ngày. Bước 2: Chạy quạt nước liên tục trong 2 - 3 ngày để kích thích trứng tôm, ốc, côn trùng, cá tạp nở thành ấu trùng. Bước 3: Sau chạy quạt nước liên tục 2 - 3 ngày (để trứng cá tôm nở hết)  bắt đầu diệt tạp bằng Saponin 15 - 16g/m3 (nếu độ mặn nước ao thấp < 20‰ nên ngâm trước 1 đêm và thêm muối vào để đạt độ mặn 30‰ để tăng hiệu quả diệt tạp); Sử dụng Iodine bột, 400g/1000m3 (sử dụng Cồn 900 hòa tan Iodine), cứ 5 lít cồn hòa tan 1kg Iodine, sau khi hòa tan hết pha loãng với nước và tạt khắp ao, xử lý lúc 5 - 6h sáng tăng hiệu quả của Iodine do thời điểm đó oxy và pH thấp nhất. Ngày hôm sau kiểm tra độ kiềm đạt 100 -120mg/l, nếu thấp bón Dolomite (vôi đen) cho đến đạt tiêu chuẩn. Bước 4: Cấp nước từ ao chứa sang ao nuôi qua túi lọc, độ sâu nước từ 1,3-1,4m.

     

    Gây màu nướctheo bốn cách như sau: Cách 1 tiến hành theo công thức 2:1:2 (thành phần gồm 2 kg cám gạo (hoặc cám ngô) + 1 kg bột cá + 2 kg bột đậu nành). Trộn đều hỗn hợp trên sau đó nấu chín, ủ kín từ 2 - 3 ngày. Dùng cám ủ bón để gây màu, liều lượng 3 - 4 kg/1.000 m3 nước, bón liên tục trong 3 ngày, cho đến khi đạt độ trong cần thiết (30 - 40 cm). 7 ngày sau bón bổ sung, liều lượng giảm 1/2 so với ban đầu (căn cứ màu nước để bổ sung). Cách 2 thực hiện theo công thức 3:1:3 (thành phần gồm 3 kg mật đường + 1 kg cám gạo (hoặc cám ngô) + 3 kg bột đậu nành). Công thức này không cần nấu chín, trộn đều sau đó ủ kín trong 12 giờ. Dùng cám ủ bón để gây màu, liều lượng 2 - 3 kg/1.000 m3 nước, bón liên tục trong 3 ngày, cho đến khi đạt độ trong cần thiết (30 - 40 cm), 7 ngày sau bón bổ sung, liều lượng giảm 1/2 so với ban đầu (căn cứ màu nước để bổ sung). Cách 3: Dùng 5 - 6 lít mật + 15g men bánh mỳ + 1kg thức ăn số 0 + 2 lít nước ngọt sạch khuẩn ủ trong thời gian 24 giờ, dùng cho 1000 m3, gây màu nước liên tục trong 7 - 10 ngày đầu, thời điểm gây màu tốt nhất từ 7 - 8 giờ sáng. Cách 4: Gây màu nước có sử dụng vi sinh: Cứ 1.000 m3 sử dụng: 2kg cá tạp, 4kg cám gạo, 200g mật hay đường và 100g men bánh mỳ (làm tăng nhanh phù du sinh vật phát triển, ổn định môi trường...). Ngày thứ nhất Cho cá và nấu chín, cho cám và đường vào quậy đến  chín, càng đặc càng tốt, sau đó để nguội và cho men bánh mỳ vào ủ sau 24h, hòa nước tạt khắp ao. Ngày Thứ 2: Cho vi sinh xuống ao (vi sinh phải có dòng vi khuẩn Bacillus SP, tối thiểu trong sản phẩm phải có 2 con trở lên) theo liều dùng của nhà sản xuất. Ngày thứ 4: Cho sản phẩm gây màu nước (làm như ngày thứ nhất) Ngày thứ 6: Cho vi sinh như lần trước (làm như ngày thứ 2) Ngày thứ 7: Cho sản phẩm gây màu nước, (làm lặp lại 2 lần cách làm của ngày thứ nhất). Ngày thứ 8-10: Kiểm tra chất lượng nước pH, Kiềm, độ trong và thả giống.

     

    Quạt nước và thời gian chạy quạt nước: Bố trí hệ thống quạt nước và thời gian chạy quạt nước phải đảm bảo nhu cầu Ôxy cho tôm nuôi, đặc biệt thời điểm nửa đêm/gần sáng khi hàm lượng Ôxy hòa tan giảm dần/xuống thấp nhất trong ngày và trong suốt quá trình cho tôm ăn. Cần tăng cường thời gian chạy quạt hoặc bố trí thêm hệ thống quạt cho tôm nuôi, đặc biệt vào những thời điểm nắng nóng hoặc mưa kéo dài.

     

    Số lượng máy quạt nước. Tôm thẻ chân trắng thả mật độ cao đòi hỏi Ôxy nhiều. Do đó, tùy theo mật độ thả nuôi có thể thiết kế hệ thống quạt nước bằng cánh quạt nhựa để cung cấp Ôxy cho ao nuôi. Khi bố trí quạt nước cần quan tâm các vần đề sau: 1 HP (sức ngựa) sử dụng nuôi được 400 - 450 kg tôm thương phẩm; Quạt nước chỉ đưa Oxy xuống sâu tối đa 1,2 m; Ban ngày chạy 60 - 70 vòng phút; Ban đêm chạy 110 - 120 vòng phút. Trùy thuộc vào diện tích, mật độ nuôi mà bố trí quạt cho hợp lý; nếu ao nuôi từ 2.000-3.000 m2, mật độ nuôi từ 60-100 con/m2 có thể bố trí 4 dàn (10 cánh quạt/1 dàn). Nếu diện tích ao từ 4.000 - 5.000 m2,  mật độ nuôi từ 60-100 con/m2 thì bố trí 6 dàn (10 cánh quạt/dàn).

     

    Lưu ý: Khi tôm lột xác nhiều, tiêu tốn oxy gấp đôi; Khi tảo chết, bón hóa chất (Formalin, đường) sẽ tiêu hao Ôxy nhiều.

     

    Công tác chọn giống: Lựa chọn con giống của Công ty có thương hiệu, nguồn gốc rõ ràng và đảm bảo chất lượng tôm bố mẹ theo quy định; Tôm giống đảm bảo chất lượng: âm tính với các bệnh đốm trắng, đầu vàng, taura, hoại tử gan tụy, không bị bệnh phát sáng, không có ký sinh trùng bám; Kích cỡ và sức khoẻ tôm giống: đảm bảo P12, tương ứng chiều dài 9-11mm, có 4 gai trên chủy, màu sáng, tôm khỏe, phụ bộ hoàn chỉnh, đường ruột đầy thức ăn.

     

     Mật độ thả: 60 - 100 con/m2; Thả tôm giống vào sáng sớm hoặc chiều mát. Trước khi thả giống cần chạy quạt nước từ 8 - 12 giờ để đảm bảo lượng oxy hòa tan trong ao phải lớn hơn 4 mg/l; Vị trí thả: thả đều các điểm trong ao là tốt nhất. 

     

    Chú ý:nếu thời gian vận chuyển tôm >9h, cần có thùng nhựa 200 - 500 lít có sục khí, khi đến tới ao nuôi cần múc nước ao cho vào từ từ sau 30 phút si phông xuống ao nhằm giảm sốc pH)

     

    Chăm sóc và quản lý:Sử dụng thức ăn công nghiệp dạng viên có hàm lượng đạm và kích cỡ phù hợp với từng giai đoạn phát triển của tôm. Giai đoạn từ 0 - 10 ngày tuổi: Chia lượng thức ăn thành 2 - 3 lần/ngày; (số lượng thức ăn cho ăn bằng khoảng 10 - 20% số lượng thức ăn nhà sản xuất hướng dẫn). Giai đoạn từ 10 - 20 ngày tuổi: chia lượng thức ăn thành 2 - 3 lần/ngày; (số lượng thức ăn cho ăn bằng 30 - 50% số lượng thức ăn nhà sản xuất hướng dẫn). Giai đoạn từ sau 20 ngày tuổi: chia lượng thức ăn thành 4 - 5 lần/ngày vào lúc 7h, 11h, 13h, 16 h, 20h; Điều chỉnh lượng thức ăn theo nhá (vó) kiểm tra hàng ngày và duy trì cách cho ăn này đến lúc thu hoạch. Đối với bữa cho ăn lúc 20h bằng 30% bữa 16 h.

     

    Cách cho ăn: Nên rải thức ăn xung quanh ao đồng thời liên tục quạt nước trong quá trình cho ăn để đảm bảo lượng Ôxy kích thích tôm ăn khoẻ.

     

    Lưu ý:Trong quá trình cho ăn cần điều chỉnh tốc độ của cánh quạt nhẹ hơn so với lúc bình thường để đảm bảo lượng Ôxy và tránh làm trôi nhanh thức ăn vào khu vực ở giữa ao làm tôm không kịp bắt mồi.

     

    Bảng: Điều chỉnh thức ăn theo hiện trạng của môi trường

     

    Hiện trạng

    Thức ăn giảm (% so với bình thường)

    Lột xác nhiều

    50

    Tảo chết

    50 - 70

    Thời tiết thay đổi

    60 - 80

    Nhiệt độ thay đổi ± 20C: 

    30

    Mưa lớn khi cho ăn

    Không cho hoặc cho 50

    Thay nước

    50 - 80 phụ thuộc vào sự thay đổi nhiệt độ

    Sử dụng hóa chất

    Ngưng một bữa

    Nổi đầu vào sáng sớm

    Ngưng cho ăn cả ngày

    Lượng thức ăn đạt số lượng cao nhất khi tôm 80 con/kg là 42 kg/100.000 tôm/ngày. Duy trì 15 ngày sau đó giảm 10%.

     

    Công tác Quản lý môi trường ao nuôi: Sử dụng chế phẩm vi sinh suốt trong quá trình nuôi (Đầu vụ 7 ngày sử dụng 1 lần, thời gian giữa vụ cho đến thu hoạch 3 - 4 ngày sử dụng 1 lần), liều lượng và lần sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Bổ sung vitamin C vào thức ăn ngày 1 lần, 2 - 3 g/kg thức ăn. Thường xuyên trộn men tiêu hóa vào thức ăn, liều dùng theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Kiểm tra màu tảo trong ao (nếu trong quá trình nuôi tảo không bị chết, thì Ôxy không thiếu và pH luôn ổn định). Kiểm tra các yếu tố môi trường ao nuôi như Ôxy, pH, độ trong: đo 2 lần/ngày; Độ kiềm, NH3, H2S: 3 ngày đo 1 lần.

     

    Bảng: Các thông số thủy hóa tối ưu, giúp tôm phát triển tốt

     

    TT

    Các thông số

    Chỉ số tối ưu

    1

    pH

    8,0 - 8,5

    2

    Độ mặn (‰)

    10–20

    3

    Oxy hòa tan (mg/l)

    ≥5

    4

    Độ kiềmCaC03 (mg/l)

    120-150

    5

    Độ trong (cm)

    35-45

    6

    NH3 (mg/l)

    ≤ 0,01

    7

    NO2 (mg/l)

    ≤ 0,4

    8

    NO3 (mg/l)

    ≤60

    9

    Nhiệt độ (0C)

    27 - 33

     

     

    * Lưu ý trong quản lý môi trường: Tháng thứ nhất:Giữ ổn định màu nước và các chỉ số môi trường pH, kiềm, nhiệt độ, Ôxy hoà tan... tránh sinh tảo đáy hoặc tảo phát triển quá mức;Tháng thứ 2: Giữ màu nước thích hợp, mực nước sâu 1,4 - 1,8 m để duy trì các yếu tố  nhiệt độ, Ôxy hoà tan, pH thích hợp, dao động giữa ban ngày và ban đêm diễn ra chậm, tránh gây sốc cho tôm; Định kỳ 2 - 3 ngày si phông đáy ao 1 - 2 lần và bổ sung nước vào ao nuôi (nước đưa vào ao nuôi phải được xử lý sạch);Thườngxuyên thu gom rác thải, chất thải để xử lý đúng nơi quy định.

     

    Công đoạn cuối cùng là thu hoạch: Tùy theo giá cả mà người nuôi chọn thời điểm thu hoạch cho phù hợp khi tôm đạt kích cỡ thương phẩm. Trước khi thu hoạch cần theo dõi chu kỳ lột xác của tôm và hạn chế thu khi tôm còn mềm vỏ.

     

    Nguồn tin: Trần Trung Thành - TTKN

     

 

Nghe nhạc