Trang TTĐT Sở NN&PTNT Nghệ An

thông tin chi tiết

  • Quản lý, phát triển tàu cá trên địa bàn tỉnh Nghệ An
    03/03/2017 08:36
  • Nghệ An là tỉnh có số lượng tàu làm khai thác hải sản lớn của miền bắc, đến hết năm 2016, trên toàn tỉnh có 3.917 chiếc.
  • Để bảo vệ và phát triển tốt nguồn lợi thủy sản vùng biển, phát triển nghề khai thác hải sản một cách bền vững và thực hiện nghiêm các quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ngày 26/11/2016, UBND tỉnh Nghệ An đã ban hành Quyết định số 5896/QĐ-UBND phê duyệt “Đề án phát triển đội tàu khai thác hải sản tỉnh Nghệ An giai đoạn 2016 – 2020, tầm nhìn 2030.

     

    Mục tiêu cơ bản của Đề án:

     

    Phát triển đội tàu khai thác trên cơ sở ưu tiên phát triển đội tàu công suất lớn, đánh bắt các đối tượng chủ lực có giá trị kinh tế cao, các nghề khai thác có tính chọn lọc cao, thân thiện với môi trường theo hướng nâng cao hiệu quả. Từng bước hiện đại hóa đội tàu khai thác, thay thế vỏ gỗ bằng vỏ sắt, vật liệu mới. Nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng công nghệ kỹ thuật mới trong khai thác, đánh bắt và bảo quản sản phẩm trên tàu.

     

    Phát triển lợi thế nguồn lợi biển tại các vùng khơi có tiềm năng lớn của Vịnh bắc bộ, Miền Trung và vùng biển Hoàng Sa có nguồn lợi thế cá nổi lớn và có giá trị kinh tế cao; giảm cường độ khai thác ven bờ. Từng bước giảm số tàu thuyền <20 CV và những nghề khai thác ảnh hưởng đến nguồn lợi như nghề lưới kéo, nghề te, xăm

     

    Phát triển khai thác hiệu quả, gắn với bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thủy sản. Từng bước kiểm soát hoạt động của các đội tàu thông qua giấy phép khai thác.

     

    Mục tiêu đến năm 2020 còn 3.785 chiếc và năm 2030 còn 3.700 chiếc; trong đó, khuyến khích phát triển nghề lới vây, nghề câu, nghề lưới rê; hạn chế và loại bỏ dần các nghề lưới kéo, nhất là nghề lưới kéo đôi thường khai thác gần bờ và một số nghề như bẫy, xăm, vó, mành. Cơ cấu nghề nghiệp đến năm 2020 như sau: nghề vây: 40%, nghề câu 20%, nghề chụp 20%, nghề rê 20%. Để đảm bảo cơ cấu nghề nghiệp như mục tiêu đề ra (nghề vây chiếm 40%), các nghề câu, rê, chụp, mỗi nghề chiếm 20%, trong quá trình thực hiện hỗ trợ đóng mới và cải hoán tàu cá, chuyển đổi nghề nghiệp; tập trung ưu tiên cho phát triển các nghề này. Về ngư trường, khuyến khích đầu tư phát triển đội tàu hoạt động tại vùng biển Hoàng Sa.

     

    Để đạt được các mục tiêu đề ra, cần thực hiện đồng bộ các giải phápcơ bản như: 

     

    Rà soát các quy hoạch khu dịch vụ hậu cần nghề cá (khu neo đậu, cầu cảng, chợ cá, khu chế biến, đóng mới, sữa chữa tàu thuyền...), ngư trường khai thác, vùng khai thác để từng bước có cơ sở phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển đội tàu khai thác hải sản theo hướng bền vững. Thực hiện tốt quy định về kiểm soát số lượng tàu cá, nhất là đối với loại tàu cá dưới 20 CV, không cho phép đóng mới và phát triển thêm các loại tàu cá này.

     

    Nghiên cứu, áp dụng các mô hình quản lý mới trong khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản như đồng quản lý, quản lý dựa vào cộng đồng. Hình thành và phát triển các cộng đồng, tổ chức liên kết (tập đoàn đánh cá), hợp tác (hợp tác xã), tổ đội trong hoạt động khai thác vừa là điều kiện tốt cho quản lý nghề cá, thu nhận các thông tin vừa tạo thế mạnh tập thể, có tiếng nói chung đồng thời hỗ trợ lẫn nhau trong hoạt động trên biển cũng như trong cuộc sống của các ngư dân. Khuyến khích ngư dân có năng lực về kinh tế và kinh nghiệm trong sản xuất thành lập các Doanh nghiệp tư nhân sản xuất khai thác hải sản, Doanh nghiệp tư nhân kinh doanh dịch vụ hậu cần nghề cá trên biển.

     

    Thực hiện đầu tư, nâng cấp và hoàn thiện cảng cá, bến cá, chợ cá và các khu neo đậu trú bão cho tàu cá đã được phê duyệt, như nâng cấp mở rộng cảng cá Cửa Hội, Cảng cá Lạch Quèn, Cảng cá Quỳnh Phương, Cảng cá Lạch Vạn, Bến trú bão Lạch Lò. Tiếp tục nghiên cứu, khảo sát để xây dựng các dự án đầu tư mới, nâng cấp các cảng cá tại các vùng trọng điểm nghề cá cho giai đoạn 2020-2030.

     

    Tiếp tục tổ chức các lớp đào tạo thuyền trưởng, máy trưởng và thuyền viên tàu cá nhằm đảm bảo yêu cầu cho hoạt động khai thác, tiếp cận công nghệ mới, phương pháp sử dụng tàu thuyền công suất lớn và các loại máy móc thiết bị hiện đại. Ưu tiên đào tạo nghề cho con em ngư dân vùng ven biển để từng bước tiếp cận nghề mới, từng bước chuyển đổi sinh kế nhằm giảm áp lực khai thác ven bờ và vùng lộng.

     

    Thường xuyên cập nhật các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong công nghệ khai thác thủy sản và bảo quản sản phẩm sau khai thác. Lựa chọn và du nhập công nghệ tiên tiến phù hợp với điều kiện nghề cá của tỉnh về khai thác thủy sản, nhất là khai thác xa bờ trên cơ sở mua công nghệ hoặc đưa vào sản xuất thử nghiệm rồi chuyển giao công nghệ. Nghiên cứu ứng dụng các công nghệ đánh bắt có hiệu quả cao và bảo quản sau thu hoạch nhằm nâng cao năng suất, sản lượng và giá trị sản phẩm. Nghiên cứu ứng dụng công nghệ xử lý và bảo quản, lưu giữ và vận chuyển tươi sống tôm biển, cá biển và các đối tượng có giá trị kinh tế khác.Tổ chức chuyển giao công nghệ mới trong khai thác thủy sản, trao đổi kinh nghiệm các mô hình khai thác thủy sản đạt hiệu quả kinh tế cao.

     

    Xây dựng chợ đầu mối thủy sản để cung cấp cho các khu vực Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ tại các xã, phường trọng điểm nghề cá của tỉnh. Có chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế trong nước liên doanh, liên kết với đối tác ở trong nước hoặc nước ngoài để đầu tư xây dựng chợ đầu mối thủy sản.

     

    Tiếp tục thực hiện chính sách phát triển thủy sản theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP của Chính phủ và Nghị định số 89/2015/NĐ-CP ngày 07/10/2015 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07/7/2014 của Chính phủ để phát triển đóng mới, cải hoán các loại tàu thuyền có công suất lớn. Rà soát, sửa đổi, bổ sung Quyết định số 87/2014/QĐ-UBND ngày 17/11/2014 về việc ban hành quy định một số chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An phù hợp với quy định của pháp luật và thực tiễn của địa phương./.

     

     

     Nguồn: phòng Quản lý Tàu cá và CSDV hậu cần nghề cá  – Chi cục Thủy sản Nghệ An

 

Nghe nhạc