Trang TTĐT Sở NN&PTNT Nghệ An

thông tin chi tiết

  • Thực trạng về chăn nuôi và cơ cấu đàn bò sinh sản, bò thịt trên địa bàn tỉnh Nghệ An
    10/11/2016 16:47
  • Nghệ An là tỉnh nông nghiệp nằm ở khu vực Bắc Trung Bộ, có diện tích tự nhiên lớn nhất cả nước với 16.487,3 Km2 (2/3 diện tích là đồi núi). Dân số trên 3 triệu người, trong đó 80% làm nghề nông nghiệp nên Nghệ An có nhiều tiềm năng và điều kiện thuận lợi để phát triển ngành chăn nuôi đại gia súc.
  • 1. Tình hình chung:

     

    Nghệ An là tỉnh nông nghiệp nằm ở khu vực Bắc Trung Bộ, có diện tích tự nhiên lớn nhất cả nước với 16.487,3 Km2 (2/3 diện tích là đồi núi). Dân số trên 3 triệu người, trong đó 80% làm nghề nông nghiệp nên Nghệ An có nhiều tiềm năng và điều kiện thuận lợi để phát triển ngành chăn nuôi đại gia súc. 

     

    Trong những năm qua, chăn nuôi trâu bò (nói chung) chăn nuôi bò (nói riêng) có bước phát triển đáng kể cả về lượng và chất. Theo số liệu thống kê 1/10/2016, tổng đàn trâu bò toàn tỉnh là 725.458 con. Trong đó: số lượng đàn bò là 428.782 con. Sản luợng thịt bò hơi xuất chuồng là 14.583 tấn. Nghệ An đang là một trong những tỉnh đứng đầu cả nước về số lượng trâu bò. Mặc dù có sự phát triển mạnh song so với tiềm năng, hiệu quả sản xuất chăn nuôi, chất lượng đàn bò chưa cao. Quy mô chăn nuôi bò chủ yếu nhỏ lẻ, phân tán, mang tính tự phát theo hình thức chăn nuôi hộ gia đình. Do đó: năng suất thấp, chất lượng thịt chưa cao, thị trường tiêu thụ không ổn định, chưa có nhà máy sản xuất chế biến sản phẩm từ bò cũng như nhà máy chế biến thức ăn cho trâu bò…

     

    2. Số lượng, phân bố và cơ cấu đàn bò giai đoạn 2012 -2015:

     

    Chỉ tiêu

    Năm

    Tốc độ phát triển

    (%)

    2012

    2014

    2015

    2015/2012

    2015/2014

    1. Tổng đàn bò

    378.907

    391.190

    411.912

    108,7

    105,3

    - Bò lai

    140.389

    158.540

    172.528

    122,89

    108,8

    - Bò sữa

    25.910

    45.580

    47.739

    184,25

    104,7

    - Phân bố vùng miền núi

    208.630

    215.540

    211.698

    101,47

    98,22

    - Phân bố vùng  đồng bằng.

    170.277

    175.650

    84.978

    49,9

    48,38

    2. Sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng.

    12.250

    13.742

    14.583

    119

    106,12

     

    - Tổng đàn bò có chiều hướng tăng nhẹ qua các năm: Năm 2015 tổng đàn bò toàn tỉnh đạt 411.912 tăng 8,7% so với năm 2012 và tăng 5,3% so với năm 2014. Tổng đàn bò lai đạt 172.528 con chiếm 42% so với tổng đàn toàn tỉnh, tương tự tỷ lệ bò sữa đạt 47.739 chiếm 11,6%, tỷ lệ còn lại chủ yếu là các giống bò nội:  bò vàng, bò H’mông, bò địa phương tại các huyện miền núi.

    - Sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng tiếp tục tăng nhẹ: Năm 2015 đạt 14.583 tấn, tăng 19% so với năm 2012 và  6,12% so với năm 2014.

    - Về phân bố vùng chăn nuôi: tổng đàn gia súc đã có sự chuyển dịch đúng hướng theo tái cơ cấu vùng chăn nuôi là tăng dần đàn trâu bò ở các vùng miền núi. Tại thời điểm tháng 10/2015 số lượng đàn bò các huyện miền núi là: 253.335 con/ 428.782 con chiếm 59,08%.

    - Về trang trại, gia trại: Từng bước chuyển chăn nuôi nhỏ lẻ sang phát triển chăn nuôi tập trung (trang trại và gia trại) theo hướng công nghiệp và ứng dụng công nghệ cao: Tính đến 31/5/2015trên địa bàn toàn tỉnh có 236 trang trại chăn nuôi đạt tiêu chí theo Thông tư 27. Trong đó có13 trang trại chăn nuôitrâu bò;nổi bật là trang trại chăn nuôi bò sữa tập trung (TH milk, Vinamilk), trại  nhập  nuôi  Bò ngoại (sinh sản) tại Tân kỳ, trại bò thịt vỗ béo (bò Úc) tại Nghi lộc.

     

    3. Hiện trạng về các giống bò và công tác quản lý giống bò giai đoạn hiện nay:

     

    3.1. Các giống bò nuôi phổ biến của tỉnh:

     

    a) Bò vàng:

     

    - Đặc điểm ngoại hình:Thân hình  cân xứng. Đầu con cái đầu thanh, sừng ngắn; con đực  đầu to, sừng dài chĩa về phía trước; mạch máu và gân mặt nổi rõ. Mắt tinh, lanh lợi. Cổ con cái thanh, cổ con đực to; lông thường đen. Yếm kéo dài từ hầu đến xương ức. Da có nhiều nếp nhăn. U vai con đực cao, con cái không có. Lưng và hông thẳng, hơi rộng. Bắp thịt nở nang. Mông hơi xuôi, hẹp và ngắn. Ngực phát triển tốt, sâu nhưng hơi lép. Bụng to, tròn nhưng không sệ. Bốn chân thanh, cứng cáp; 2 chân trước thẳng, 2 chân sau đi thường chạm kheo.

    - Ưu nhược điểm của giống bò vàng:

    + Bò Vàng có nhiều đặc tính quý như: khỏe mạnh, nhanh nhẹn thich nghi lâu đời với điều kiện khí hậu nhiệt đới: chịu đựng được các điều kiện kham khổ, thiếu thốn thức ăn, sức chống chịu bệnh tật tốt, có sức đề kháng để chống lại các bệnh thường gặp ở bò, thành thục sinh dục sớm và mắn đẻ. Vì vậy, Bò vàng thường được nuôi nhiều ở các vùngmiền núi tỉnh Nghệ An như: Con Cuông, Quỳ Hợp, Qùy Châu, Quế phong, Tương Dương, Kỳ Sơn, Anh Sơn...

    + Bò vàng có nhược điểm là tầm vóc nhỏ. Khối lượng sơ sinh 14-15kg, lúc trưởng thành con cái nặng 160-200kg, con đực nặng 250- 280kg. Tuổi phối giống lần đầu vào khoảng 20-24 tháng. Tỉ lệ đẻ hàng năm khoảng 50-80%. Khả năng cho sữa thấp, khoảng 2kg/ngày trong thời gian 4-5 tháng (chỉ đủ cho con bú). Tuy nhiên, tỷ lệ mỡ sữa rất cao (5-5,5%). Năng suất thịt không cao, tỉ lệ thịt xẻ 40-44%. Sức kéo trung bình của con cái 380-400 N, con đực 440-490N. Sức kéo tối đa của con cái 1000- 1500N, con đực 1200-1800N. 

     

    b) Bò H’Mông: 

     

    Đây là giống bò cần được bảo tồn nguồn gen; được nuôi nhiều nhất ở vùng miền núi cao các huyện: Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế phong..., được người Mông và các dân tộc anh em bản địa nuôi khá phổ biến. Là giống bò chủ yếu do người H'mông chăn nuôi. Bò đực trưởng thành trên 5 năm tuổi có trọng lượng 500–800 kg. Đây là giống bò có nguồn gen quý với tỷ lệ mỡ giắt cao, thịt thơm ngon, độ dai là 6,5 kg sau 24 giờ giết mổ.

    Bò H’Mông có khả năng sinh sản tốt. Thường 18 - 24 tháng tuổi bò đã động dục và có khả năng phối giống. Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ của bò chủ yếu từ 12 - 18 tháng.

    Tuy nhiên, hiện nay các giống bò nội: bò vàng, bò H’mông đến nay còn rất ít; phần lớn đã bị lai tạp với nhiều giống khác nhau.

     

    c) Bò lai Zebu:

     

    đã khắc phục được những nhược điểm của bò Vàng, tập trung được những đặc tính quý của cả hai giống bò Vàng và bò Zebu. Bò lai Zebu có nhiều đặc điểm gần giống như bò Zebu: đầu hẹp, trán gồ, yếm và rốn rất phát triển, u vai cao và nổi rõ, mình ngắn, ngực sâu, mông dốc, bò giống có bầu vú khá phát triển, âm hộ có nhiều nếp nhăn, đa số đuôi dài.

     

    3.2. Định hướng phát triển chăn nuôi bò trong giai đoạn tiếp theo:

     

    Với kết quả năm 2015 tổng đàn bò toàn tỉnh đạt 411.912 contăng 5,3% so với năm 2014, tương tự tổng sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng đạt 14.583 tấn, tăng 6,12% so với năm 2014. Về nhịp độ tăng đàn đạt yêu cầu, còn về sản lượng thịt vẫn chưa phát triển xứng với tiềm năng.

    Để đạt được mục tiêu trong Đề án Tái cơ cấu ngành chăn nuôi của tỉnh là duy trì nhịp độ tăng đàn và nâng cao chất lượng giống để tăng năng suất và chất lượng đàn trong những năm tiếp theo và tính đến năm 2020. Định hướng theo các nội dung giải pháp cơ bản sau:

    - Về tăng số lượng đàn:

    Ngoài việc phát triển về số lượng đàn nhưng chú trọng về sản lượng sản phẩm thịt bò (thịt xẻ).

    Phải đồng thời triển khai thực hiện 2 phương pháp: Tăng đàn tại chỗ bằng sinh sản tự nhiên và nhập đàn bổ sung từ ngoại tỉnh về (chủ yếu bò giống để cải thiện chất lượng đàn bò địa phương).

    Có chính sách kêu gọi thu hút các doanh nghiệp đầu tư xây dựng trang trại chăn nuôi bò thịt, bò sinh sản để chủ động tạo nguồn con giống và kiểm soát cải tạo đàn bò.

    - Về tăng chất lượng giống: theo hướng lai tạo bò chuyên thịt:

    + Bò lai Zebu: Vào năm 1994-1995 tỉnh Nghệ An tiến hành “Chương trình cải tạo đàn bò Vàng” bằng phương pháp sử dụng tinh các giống bò Zebu (các giống Red Sindhi, Sahiwal và Brahman) để phối cho bò cái Vàng đã qua tuyển chọn, tạo ra bò lai Zebu. Vì vậy, chúng có nhiều đặc tính quý, khắc phục được các nhược điểm của bò Vàng.

    Hiện nay, tỷ lệ bò lai (laisind, Zebu…) chiếm tỷ lệ khoảng 42% chung cả tỉnh (tại vùng đồng bằng tỷ lệ bò lai trên 75%) và càng ngày tỷ lệ lai ngoại càng cao khi tỉnh vẫn tiếp tục chỉ đạo thực hiện các chương trình phối tinh nhân tạo tinh giống bò ngoại.

    Bảng so sánh một số chỉ tiêu của bò lai Zebu với bò Vàng

    Chỉ tiêu

    Bò Vàng

    Bò lai Zebu

    Khối lượng bê sơ sinh (kg)

    12 - 15

    18 - 25

    Khối lượng lúc 5 tuổi (kg)

    150 - 230

    280 - 380

    Tuổi động dục lần đầu (tháng)

    18 - 25

    16 - 23

    Tuổi đẻ lứa đầu (tháng)

    30 - 32

    27 - 33

    Sản lượng sữa (kg/chu kỳ)

    300 - 400

    1.000 - 1.200

    Tỷ lệ thịt xẻ (%)

    40 - 42

    48 - 50

     

    Để tạo ra đàn bò theo hướng chuyên thịt, cần chọn lọc những bò cái lai Zebu (trên 50% máu ngoại) đạt tiêu chuẩn giống, khối lượng trên 250 kg, khỏe mạnh và cho phối tinh nhân tạo với tinh của các đực giống chuyên thịt cao sản (đực giống Limousin, Brahman, Droughtmaster, B.B.B) để tạo ra con lai ba máu. Những đực giống sinh ra nuôi vỗ béo và giết thịt. Những bò cái đạt tiêu chuẩn làm bò sinh sản cho phối giống tiếp. Cụ thể:

    + Dùng tinh đực giống B.B.B (3 B) phối cho bò cái lai Zebu

    Bò B.B.B (bò trắng xanh Bỉ) là giống siêu thịt của Vương quốc Bỉ. Bò có ba màu lông chủ yếu là trắng, trắng loang xanh và trắng loang đen. Thân hình đẹp, đồ sộ, cấu trúc xương vững chắc, hài hoà với xương sườn tròn, mông to không dốc, đuôi dài với túm lông dầy ở cuối.

    Bò đực trưởng thành có khối lượng 1.100 - 1.250 kg. Bò cái 700 - 750 kg. Khối lượng bê sơ sinh: 44 kg. Bò B.B.B. có khả năng sản xuất thịt tốt. Mức tăng trọng bình quân đạt 1.300 g/ngày. Tỷ lệ thịt xẻ đạt 66%. Hệ số sử dụng thức ăn được công nhận là tốt nhất trong các giống bò thịt hiện nay (khoảng 5,5 - 7,0 kg/kg tăng trọng). Phẩm chất thịt thơm, ngon.

    Bê lai F1 sơ sinh có khối lượng trung bình 25 - 28 kg. Khả năng tăng trọng cao, khối lượng lúc 24 tháng tuổi đạt 500 - 520 kg. Tỷ lệ thịt xẻ 58 - 60%.

    + Dùng tinh đực giống Limousin phối cho bò cái lai Zebu

    Bò Limousin là giống chuyên dụng thịt của Pháp. Bò có lông màu đỏ không có đốm. Niêm mạc mũi màu đỏ. Sừng và móng chân mầu trắng. Bò có mình dài, lưng phẳng, đầu ngắn, trán rộng. Con đực trưởng thành cân nặng 800 – 900 kg, con cái 550 - 600 kg. Tỷ lệ thịt xẻ 70%. Thịt có chất lượng cao.

    Dùng tinh đực giống Limousin phối cho bò cái lai Zebu tạo ra bê lai F1. Bê có khối lượng sơ sinh 20 - 21 kg. Khối lượng lúc 24 tháng tuổi 300 - 320 kg. Tỷ lệ thịt xẻ 52 - 54%.

    + Dùng tinh đực giống Droughtmaster phối cho bò cái lai Zebu

    Bò Droughtmaster là giống chuyên dụng thịt của Australia. Bò có lông mầu đỏ, lông bóng mượt, ngắn. Da mềm và đàn hồi. Lỗ mũi rộng. Yếm thõng sâu. Mình dài, chân dài vừa phải, mông tròn nhiều thịt. Con đực trưởng thành cân nặng 900 - 1.100 kg, con cái 650 – 700 kg. Bò cái mắn đẻ. Khả năng kháng ve cao và khả năng gặm cỏ và thích nghi tốt với vùng nhiệt đới. Tỷ lệ thịt xẻ 58 - 60%.

    Bê lai F1 tạo ra có khối lượng sơ sinh trung bình 19 kg. Khối lượng lúc 24 tháng tuổi 360 kg. Tỷ lệ thịt xẻ 52 - 54%

    Phát huy thế mạnh từng vùng, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi - thú y, quy trình công nghệ tiên tiến tạo điều kiện thực hiện tốt chương trình chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa của Công ty CP Vinamilk Việt nam, Công ty CP thực phẩm sữa TH, các trang trại, gia trại. Đồng thời, phát triển chăn nuôi trâu bò thịt, bò sinh sản theo hướng Trang trại tập trung với quy mô vừa và lớn, tạo hàng hoá có số lượng lớn, chất lượng sản phẩm tốt và hiệu quả kinh tế cao, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người chăn nuôi, góp phần tham gia chuyển dịch cơ cấu chăn nuôi trong nông nghiệp, thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn.

    Quy hoạch vùng chăn nuôi, xây dựng các Dự án tiền khả thi, các mô hình vỗ béo bò thịt, bò sinh sản kết hợp với vỗ béo... làm cơ sở để giới thiệu quảng cáo cho sản xuất và đầu tư.

     

    4. Quy hoạch, định hướng phát triển chăn nuôi bò:

     

    4.1. Theo vùng sinh thái:

     

    - Chăn nuôi bò sản xuất hàng hóa: Chăn nuôi bò theo hướng sản xuất hàng hóa được khuyến khích tất cả các vùng, huyện, thị trong tỉnh. Phát huy vùng chăn nuôi bò có thương hiệu (Hưng Nguyên, Nam Đàn, Đô Lương, Thanh Chương).

    - Chăn nuôi bò sinh sản: -Bò vàng: cần duy trì, bảo tồn, phát triển chủ yếu các xã, huyện thuộc vùng núi cao. -Bò lai cải tiến: các giống lai trên 50% máu Zebu được tập trung tại các huyện đồng bằng và núi thấp.

    - Chăn nuôi bò bảo vệ, duy trì nguồn gen giống gốc như bò H’Mông ở huyện Quế Phong.

    - Chăn nuôi bò chuyên hướng thịt: Chủ yếu tập trung các huyện vùng đồng bằng và vùng núi thấp, gồm các huyện: Hưng Nguyên, Nam Đàn, Đô Lương, Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, các xã đồng bằng Thanh Chương, Tân kỳ, Anh Sơn, Nghĩa Đàn.

    - Chăn nuôi bò chuyên sữa: Tập trung tại các huyện có quỹ đất khá, điều kiện tự nhiên thích hợp với chăn nuôi bò chuyên sữa, có khả năng chủ động thức ăn. Tiếp tục mở rộng quy mô, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao vào chăn nuôi bò sữa tại huyện Nghĩa Đàn và thị xã Thái Hoà, Tân Kỳ.

     

    4.2. Theo vùng cải tạo giống:

     

    - Vùng áp dụng truyền tinh nhân tạo: Các huyện đồng bằng; các xã đồng bằng của huyện miền núi thấp và tại các cơ sở chăn nuôi bò tập trung.

    - Vùng sử dụng bò đực giống nhảy trực tiếp: Các huyện, xã miền núi.

     

    4.3. Quy hoạch phát triển vùng chăn nuôi trâu bò ứng dụng công nghệ cao

     

    Tiếp tục khuyến khích, thu hút các dự án chăn nuôi bò ứng dụng công nghệ cao, ưu tiên phát triển ở những huyện có quỹ đất khá. Tập trung phát triển tổng đàn bò sữa, mở rộng và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao vào chăn nuôi bò sữa tại Nghĩa Đàn và thị xã Thái Hoà, phấn đấu đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đạt quy mô 60.000 con bò cho sữa, sản lượng sữa hàng năm đạt khoảng 450 - 500 triệu lít.

     

    4.4. Đẩy mạnh các chương trình quảng bá, giới thiệu mô hình, xây dựng thương hiệu chăn nuôi.

     

    4.5. Quy hoạch, phát triển chuyển đổi vùng đất kém năng suất, hoang hóa... để trồng cỏ chất lượng cao phục vụ chăn nuôi bò thịt, bò sinh sản.

     

    4.6. Tập huấn chăn nuôi bò thịt, bò sinh sản tại các vùng trọng điểm. Đào tạo dẫn tinh viên...

     

    4.7. Thực hiện các chính sách về hỗ trợ liều tinh bò ngoại tại các địa phương vùng đồng bằng, miền núi thấp. Hỗ trợ nuôi bò đực ngoại nhảy trực tiếp tại các xã, huyện miền núi.

     

     

    Nguồn tin: Chi cục Chăn nuôi và Thú y

 

Nghe nhạc