Trang TTĐT Sở NN&PTNT Nghệ An

thông tin chi tiết

  • CRSD Nghệ An tổ chức Hội nghị sơ kết đánh giá kết quả 4 năm xây dựng các vùng nuôi tôm an toàn sinh học 2013-2016
    28/09/2016 09:18
  • Ngày 26/9/2016, tại huyện Quỳnh Lưu, BQL dự án CRSD Nghệ An phối hợp cùng Chi cục Thủy sản tổ chức hội nghị sơ kết đánh giá kết quả 4 năm xây dựng các vùng nuôi tôm an toàn sinh học 2013-2016.
  • Ông Trần Hữu Tiến - Phó giám đốc Sở Nông nghiệp PTNT, Giám đốc dự án tham dự và chủ trì.Cùng tham gia hội nghị có các đại diện của Sở Nông nghiệp và PTNT, Chi cục Thủy sản, Chi cục Chăn nuôi và Thú y, Trung tâm quan trắc môi trường, Ban quản lý dự án CRSD Nghệ An, về phía địa phương có đại diện UBND 7 xã/phường tham gia dự án, các ban ngành, đoàn thể; các thành viên đại diện các Tổ cộng đồng và các hộ nuôi tôm các xã ven biển thuộc thị xã Hoàng Mai, huyện Quỳnh Lưu, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

     

    Theo báo cáo, sau 4 năm với sự nỗ lực của các hộ nuôi, tổ cộng đồng và sự vào cuộc tích cực của ngành thủy sản, chính quyền địa phương cùng với sự hỗ trợ của dự án CRSD Nghệ An việc xây dựng các vùng nuôi tôm ATSH đã có được những kết quả nhất định. Đó là, đã hỗ trợ xây dựng 7 vùng nuôi tôm ATSH ở 3 huyện, thị xã (Hoàng Mai, Quỳnh Lưu và Diễn Châu), với tổng diện tích 240 ha, 176 hộ nuôi. Tháng 7/2013, xây dựng 2 vùng ATSH đầu tiên là vùng GAP1- Quỳnh Bảng,  GAP2- Quỳnh Thanh; tháng 1/2014 xây dựng thêm 4 vùng  Quỳnh Lộc, Quỳnh Xuân, Quỳnh Lương và Diễn Trung; và đầu năm 2015,  vùng GAP7- Quỳnh Dị được thành lập và đi vào hoạt động.

     

     

    Triển khai thành lập và duy trì hoạt động 12 tổ cộng đồng trên 7 vùng nuôi tôm ATSH, kết quả đạt được có 5 vùng nuôi(Quỳnh Bảng, Quỳnh Thanh, Quỳnh Xuân, Quỳnh Lương và Diễn Trung)có số tiêu chí đạt yêu cầu với tỷ lệ khá caotừ 26 – 28 tiêu chí (trên tổng 29 tiêu chí).

     

    Về cơ sở hạ tầng vùng nuôi đến cuối năm 2015 đã hoàn thành nâng cấp cơ sở hạ tầng cho 6/7 vùng nuôi (Quỳnh Bảng, Quỳnh Thanh, Quỳnh Lộc, Quỳnh Xuân, Quỳnh Lương, và Diễn Trung), mỗi vùng nuôi được đầu tư từ 4 – 5 tỷ đồng để xây dựng hệ thống kênh cấp, thoát nước riêng biệt và ao chứa xử lý nước thải chung của vùng (Quỳnh Bảng, Quỳnh Lương, Quỳnh Lộc). Nhìn chung, cơ sở hạ tầng ở các vùng nuôi này đã cơ bản đáp ứng yêu cầu ATSH trong nuôi tôm nước lợ.

     

    Các tổ cộng đồng được dự án hỗ trợ cơ sở vật chất như pano; bàn ghế; loa phát thanh; test kiểm tra môi trường; thùng rác... để người dân chủ động và thuận tiện trong các hoạt động của tổ. Dự án cũng hỗ trợ nhiều về kỹ thuật như tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn; xây dựng mô hình; giám sát dịch bệnh; giám sát chất lượng nước; giám sát chất lượng con giống; hướng dẫn ghi chép… Với những hỗ trợ của dự án kết quả phần lớn các chỉ tiêu đạt và vượt so với chỉ số giám sát, đánh giá của dự án. Kết quả đạt được lớn nhất của hoạt động xây dựng vùng nuôi ATSH là nhận thức và trách nhiệm của người nuôi từ vấn đề quản lý nguồn nước đầu vào, con giống, dịch bệnh, đến việc phải xử lý nước trước khi thải ra môi trường, xử lý bùn thải, chất thải rắn đã có chuyển biến tích cực.

     

    Tại hội nghị, Đại diện Chị cục Thủy sản, Chi cục Chăn nuôi và Thú y, Trung tâm quan trắc môi trường, cùng các tổ trưởng, thành viên các tổ cồng đồng đã thảo luận sôi nổi và thống nhất cao với bản báo cáo. 

     

    Hội nghị cũng thống nhất một số giải pháp chủ yếu trong thời gian sắp tới để đảm bảo việc thực hiện thành công kế hoạch, định hướng trong năm tới đó là:

     

    1.Tiến hành đầu tư xây dựng nâng cấp CSHT tại vùng nuôi Quỳnh Dị được lựa chọn, hoàn thiện và đưa công trình vào sử dụng vào cuối năm 2016

     

    2. Tuyên truyền, chỉ đạo các vùng nuôi được lựa chọn có trách nhiệm bảo vệ các công trình, thiết bị, cơ sở vật chất được hỗ trự từ dự án, bảo trì và phát huy tác dụng, hiệu quả hệ thống kênh cấp, thoát nước đã được đầu tư xây dựng để nhằm bảo vệ môi trường vùng nuôi, hạn chế tối đa dịch bệnh.

     

    3. Tiếp tục hỗ trợ xây dựng các mô hình nuôi tiên tiến, đảm bảo ATTP như mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng tuần hoàn khép kín sử dụng nước nuôi cá rôphi áp dụng ViệtGAP, mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh không sử dụng hóa chất, kháng sinh áp dụng ViệtGAP.

     

    4. Đào tạo, tập huấn cho tổ cộng đồng và người nuôi tôm về quy trình kỷ thuật, hướng dẫn trược tiếp đến người nuôi các quản lý môi trường, nhận diện về dịch bệnh trên tôm nuôi để có các biện pháp phòng ngừa kịp thời mang lại hiệu quả kinh tế.

     

    5. Cán bộ kỹ thuật, cán bộ tư vấn cần tăng cường trực tiếp hướng dẫn giúp đỡ người nuôi, tổ cộng đồng từ việc thực hiện các quy trình kỹ thuật đảm bảo an toàn dịch bệnh đến việc áp dụng quy trình quản lý VietGAP.

     

    6. Tiếp tục hỗ trợ các hoạt động giám sát dịch bệnh, giám sát môi trường nước, giám sát chất lượng con giống.

     

    Theo kết luận của ông Trần Hữu Tiến, dự án cùng các cơ quan chuyên môn phối hợp với địa phươngvà người nuôi phải phấn đấu để đến hết năm 2017, trên 7 vùng nuôi ATSH đã được xây dựng phải có tối thiểu 5 vùng đạt tiêu chuẩn, được chứng nhận VietGAP. Cụ thể

     

        (i) Đối với tổ cộng đồng

     

    - Thực hiện tốt, đầy đủ các tiêu chí, kế hoạch của các thành viên trong tổ đã xây dựng.

    - Nâng cao chất lượng và chủ động trong sinh hoạt tổ. Việc sinh hoạt tổ nên linh hoạt phù hợp với điều kiện của tổ, mùa vụ, thời tiết ... Tổ ít người có thể sinh hoạt chung, tổ đông người nên sinh hoạt theo các nhóm gần nhau về địa lý hoặc có chung vấn đề cần quan tâm.

    - Hình thành liên kết theo nhóm để mua giống, vật tư phục vụ trong quá trình nuôi để giảm chi phí đầu tư.

    - Thực hiện giám sát nghiêm việc xử lý nước, bùn thải trước khi xả thải ra môi trường ngoài: đối với những vùng có ao chứa bùn thải cần tuân thủ quy định về xử lý trước khi thải ra môi trường theo quy ước hoạt động;  Đối với những vùng không có ao chứa bùn thải cần xử lý nước trong ao nuôi đảm bảo yêu cầu trước khi thải ra môi trường và phơi khô bùn đáy ao trước khi xử lý, vận chuyển.

     

    (ii) Các thành viên tổ cộng đồng

     

    - Cần nâng cao trách nhiệm bản thân với tổ cộng đồng vùng nuôi trong sinh hoạt cũng như gây quỹ, bảo vệ môi trường chung. Các hộ nuôi cần tham gia tích cực vào các hoạt động của tổ cộng đồng với tinh thần trách nhiệm cao từ việc tham gia sinh hoạt tổ, đào tạo, tập huấn kỹ thuật đến việc giám sát thực hiện quy ước của tổ.

    - Cam kết thực hiện đầy đủ các quy định của tổ cũng như ngành đề ra như: Thả nuôi đúng lịch mùa vụ, mật độ thả nuôi đảm bảo. Con giống thả nuôi đảm bảo chất lượng và được ương gièo trên địa bàn tỉnh. Khai báo và xử lý khi dịch bệnh xảy ra. Cam kết không xả thải trực tiếp chất thải ra kênh cấp kênh thải của vùng nuôi. Thực hiện ghi chép nhật ký, lưu giữ đầy đủ hồ sơ trong quá trình nuôi. Đảm bảo diện tích ao xử lý, chứa lắng; ao xử lý nước thải; ao chứa bùn thải. Xây dựng và tách biệt nơi để thuốc, hóa chất, thức ăn nuôi tôm.

     

    Tin bài: Đinh Hữu Hải-Tư vấn NTTS

 

Nghe nhạc