Trang TTĐT Sở NN&PTNT Nghệ An

thông tin chi tiết

  • Cần phát triển mô hình nông lâm kết hợp thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng miền núi Nghệ An
    21/07/2016 14:46
  • Mười một huyện/thị miền núi Nghệ an có diện tích tự nhiên 1.374.502 ha chiếm 83,4% diện tích cả Tỉnh; với số dân xấp xỉ 1.110.000 người chiếm 36,5% dân số toàn Tỉnh, trong đó có trên 41 vạn người dân tộc thiểu số bao gồm: Thái, Thổ, HMông, Khơ Mú, Ơđu…;
  • Địa hình các huyện miền núi đa dạng, phức tạp, bị chia cắt bởi hệ thống Sông, Suối, các dãy núi cao…đi lại rất khó khăn; khí hậu nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nóng, ẩm, mùa đông có gió mùa đông bắc, nhiệt độ thấp, có mưa phùn; mùa hè có gió mùa tây nam khô nóng, lượng mưa lớn tập trung vào tháng 9, tháng 10 trong năm, địa hình dốc nên thường xẩy ra lũ quét.

     

    Những năm qua, các huyện miền núi được sự đầu tư lớn của Nhà nước thông qua các chương trình, dự án, bằng các nguồn vốn trong và ngoài nước nên cơ sở hạ tầng như: Hệ thống giao thông, thuỷ lợi, điện, thông tin liên lạc… được xây dựng tạo điều kiện cho việc phát triển sản xuất, lưu thông hàng hoá, nhất là các vùng nguyên liệu cho các nhà máy chế biến… góp phần phát triển kinh tế miền Tây. Tuy nhiên so với miền xuôi thì đời sống của đồng bào miền núi nói chung, các dân tộc thiểu số nói riêng còn nhiều khó khăn, thậm chí cón có tình trạng hiểm họa đe dọa cuộc sống, nghèo đói, thiếu lương thực vào các vụ giáp hạt… Làm thế nào để phát triển sản xuất ổn định đời sống cho người dân yên tâm sống gắn bó với quê hương, với rừng mà không phá rừng là nhiệm vụ quan trọng của các ngành các cấp.   

     

     Hiện tại đã có nhiều mô hình sản xuất ở miền núi mang lại hiệu quả kinh tế khá cao nhưng cũng nhiều mô hình bị rủi ro như chăn nuôi gia súc gia cầm bị chết rét hoặc dịch bệnh, cây trồng năng suất thấp, không có thu hoạch do hạn hán, rét đậm, rét hại, lũ quét... Một trong những nguyên nhân sản xuất bị thiệt hại nặng là người dân thiếu kiến thức về ứng phó với biến đổi khí hậu. Để hạn chế rủi ro do thiên tai cần thiết phải có kiến thức trong sản xuất. Mô hình sản xuất giúp người dân miền núi có thu nhập nâng cao đời sống, góp phần bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường, đó là canh tác nông lâm kết hợp (NLKH) thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH).

     

    Canh tác nông lâm kết hợp thích ứng với BĐKH là sự kết hợp khoa học giữa cây lâm nghiệp với cây nông nghiệp, giữa cây trồng và vật nuôi, sử dụng hợp lý các biện pháp kỹ thuật thích ứng với BĐKH nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích, lấy ngắn nuôi dài, đa dạng sản phẩm, góp phần đảm bảo an ninh lương thực; duy trì thảm thực vật, giảm xói mòn, rửa trôi bề mặt; tăng độ phì nhiêu của đất; bảo vệ môi trường và điều hòa khí hậu, góp phần giảm thiểu phát thải khí nhà kính. Mô hình NLKH thể hiện được các tiêu chí của mô hình nông nghiệp thông minh với khí hậu (Climate Smart Agriculture - viết tắt là CSA).

     

    Biện pháp kỹ thuật canh tác NLKH thích ứng với BĐKH:

     

    a. Chọn giống cây trông vật nuôi.

     

    - Cây lâm nghiệp:

     

    + Cây có bộ rễ phát triển khỏe, chịu hạn, kháng sâu bệnh tốt, rễ có khả năng cố định đạm, cây có khả năng tái sinh chồi mạnh, có biên độ sinh thái rộng, cây có nhiều công dụng như lấy gỗ, vỏ, quả...;

     

    - Cây nông nghiệp:

     

    + Cây có khả năng chống chịu được thời tiết khắc nghiệt (chịu hạn, chịu mặn, chịu rét...)

     

    + Chọn giống ngắn ngày; kháng sâu bệnh tốt.

     

    - Vật nuôi:

     

    + Ưu tiên chọn các giống tốt của địa phương, có khả năng chống chịu tốt mọi thời tiết, dịch bệnh.

     

    + Giống có nguồn gốc rõ ràng thuận tiện cho việc kiểm soát dịch bệnh.

     

     

    Mô hình nông lâm kết hợp tại Tân Kỳ

     

    b . Cách bố trí cây trồng, vật nuôi:

     

    * Đối với đất dốc:

     

    - Thông thường cây lâm nghiệp được bố trí trồng ở phần đỉnh đồi từ 30 - 60% diện tích, gồm các loài cây bản địa như: lim, lát, trám, quế, keo lá tràm, mỡ, bồ đề…

     

    - Tiếp theo bố trí băng xanh rộng 1- 2 mét như: Cốt khí, keo đậu, đậu thiều hoặc trồng cỏ, dứa vừa có hiệu quả kinh tế vừa chống xói mòn.

     

    - Phần sườn đồi bố trí trồng cây công nghiệp: chè, cao su, cà phê, lạc, đậu.

     

    - Phần chân đồi bố trí cây ăn quả, vải, nhãn, cam, chanh, mơ, mận, xoài,…

     

    - Dưới cùng là ao cá, chuồng trại, ruộng lúa nước, rau màu các loại.

     

    Sử dụng các giống vật nuôi bản địa như: như: Lợn rừng, lợn đen địa phương, Gà ri, gà Hmong, bò Hmong,... các loại cá truyền thống có sức sống khỏe và dễ thích nghi: Trắm, chép, trôi, mè, rô phi, cá lóc, ếch, lươn...

     

    * Đối với các vùng đất bằng:

     

      - Cây lâm nghiệp bố trí thành các đai rừng chắn gió hại cho khu vực sản xuất nông nghiệp.

     

     c. Biện pháp canh tác:

     

     - Phương thức canh tác:Sử dụng phương thức xen canh, luân canh cây trồng để hạn chế sâu bệnh hại, hạn chế xói mòn, cải tạo đất, tận dụng không gian dinh dưỡng, ví dụ: Ngô xen keo, sắn xem keo, sắn xen cao su, đậu/lạc/dứa  xen cao su...

    - Xử lý thực bì:

     

     + Tùy vào địa hình đế xử lý cục bộ theo băng, theo đám hoặc toàn diện. Tuyệt đối không đốt thực bì, có thể xếp thành băng theo đường đồng mức, hoặc băm nhỏ.

     

    - Làm đất: Tùy vào điều kiện địa hình có thể làm đất toàn diện hay cục bộ. Ở vùng đất dốc cần làm đất cục bộ theo hố, theo băng, theo đám.

     

    - Phân bón:Sử dụng phân bón hợp lý, đúng cách, đúng liều lượng, đúng thời điểm. Hạn chế sử dụng phân vô cơ, ưu tiên sử dụng phân hữu cơ, vi sinh, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để làm phân bón. Bón dúi sâu trong đất để hạn chế phân bị rửa trôi.

     

     - Phòng trừ sâu bệnh hại:Áp dụng các biện pháp phòng trừ dịch bệnh tổng hợp, hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, tạo ra sản phẩm an toàn.

     

     - Đối với chăn nuôi: Áp dụng theo hướng chăn nuôi an toàn sinh học; làm chuồng trại xa nhà ở, xử lý chất thải hợp vệ sinh; sử dụng đệm lót sinh học, vệ sinh phòng bệnh đảm bảo, không sử dụng các chất cấm trong chăn nuôi.

     

     Canh tác tổng hợp: Rừng - Vườn - Ao - Chuồng là mô hình trong điều kiện lý tưởng về đất dai, địa hình, vốn, nhân lực; tuy nhiên thực tế chỉ có thể áp dụng từng phần đối với mỗi hộ gia đình. Hy vọng rằng bài viết này sẽ cung cấp một phần kiến thức trong sản xuất thích ứng với biến đổi khí hậu đối với người dân miền núi nhằm hạn chế rủi ro do thiên tai, mang lại hiệu quả kinh tế, đồng thời góp phần bảo vệ rừng, giảm phát thải khí nhà kính, chung tay ứng phó vớiBĐKH./.                                    

                                                              

                                                            Nguyễn Thị Hà - Trung tâm  Khuyến nông Nghệ An

 

Nghe nhạc