Trang TTĐT Sở NN&PTNT Nghệ An

thông tin chi tiết

  • Chăn nuôi Nghệ An phát triển theo đúng hướng tái cơ cấu chăn nuôi
    05/11/2015 10:19
  • Nghệ An là tỉnh có địa bàn rộng vớidiện tích tự nhiên là 16493,7 km2, trong đó quỹ đất nông nghiệp 19,5 vạn ha, nguồn lao động dồi dào, có nhiều tiềm năng, điều kiện thuận lợi để phát triển chăn nuôi.
  • Đ­­­ược sự quan tâm của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, các ban ngành của tỉnh trong việc chỉ đạo, ban hành các chủ trương, chính sách, kinh phí đầu tư phát triển chăn nuôi. Nhận thức được hiệu quả kinh tế do chăn nuôi mang lại, nhiều người dân bắt đầu chú trọng đến chăn nuôi mang lại hiệu quả kinh tế cho gia đình. Vì vậy, năm 2014 -2015, Chăn nuôi Nghệ An đã chuyển dịch đúng hướng theo  Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp:

     

    - Về phát triển tổng đàn chuyển dịch  theo hướng  duy trì tổng đàn gia súc,tăng tỷ trọng gia cầm trong đàn vật nuôi : tổng đàn trâu, bò, lợn tỉnh Nghệ An ổn định( giảm nhẹ ở Vùng đồng bằng và tăng nhẹ ở Vùng miền núi)và tổng đàn gia cầm năm 2014 tăng cao so với cùng kỳ những năm trước.

     

    + Tổng đàn trâu đạt 296.241con  So với năm 2013 tổng đàn tăng 1,47%trong đó: các huyện đồng bằng là 86.086 con, chiếm 29,06% trong tổng đàn, các huyện miền núi là 210.155 con chiếm 70,94% trong tổng đàn, tăng 2,25%. Trong 09 tháng đầu năm 2015 Đàn trâu ước đạt 298.350 con, tăng 1,87% so với cùng kỳ năm trước

     

    + Tổng đàn bò đạt 391.190con tăng 2,3% so với năm 2011 và năm 2013. So với cùng kỳ năm 2013 các huyện đồng bằng đạt 175.650 con( giảm 0,09%)các huyện miền núi đạt 215.540 con( tăng 4,33%). Chăn nuôi Bò sữa quy mô tập trung công nghiệp áp dụng công nghệ cao tiếp tục phát triển.Tổng đàn bò, bê sữa năm 2014 đạt 33.150 con tăng 101,69%so với năm 2011;Tổng sản lượng sữa tươi năm 2014 đạt 140.456 tấn.  Trong 09 tháng đầu năm 2015 tổng đàn bò ước đạt 415.950 con, tăng 8,01% chủ yếu tăng đàn bò bê sữa

     

    + Tổng đàn lợn đạt 971.876con  so với cùng kỳ năm 2013 tổng đàn lợn giảm 4,24%trong đó, các huyện đồng bằng đạt 513.487 con, giảm 9,09%; các huyện miền núi đạt 458.389 con, tăng 1,84% .Trong 09 tháng đầu năm 2015 Tổng đàn lợn ước đạt 952.200 con, giảm 3,48% so với cùng kỳ, chủ yếu giảm ở khu vực chăn nuôi nhỏ lẻ nông hộ. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ước đạt 105.410 tấn. Sản lượng thịt lợn sữa bán giết ước đạt 1.700 tấn.  

     

    + Chăn nuôi gia cầm tiếp tục tăng năm 2014 đạt 17.953 nghìn contăng 13,47% so với năm 2011 và 3,95% so với năm 2013. Trong 09 tháng đầu năm 2015 Tổng đàn gia cầm ước đạt 18.450 nghìn con, tăng 3,97% so với cùng kỳ. Trong đó, đàn gà ước đạt 14.980 nghìn con.

     

    - Tổng sản phẩm ngành chăn nuôi tăng:năm 2014 thịt trâu hơi xuất chuồng đạt 8.981 tấn, tăng 4,96% so với năm 2013, trong 09 tháng đầu năm 2015 Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng ước đạt 7.290 tấn, tăng 4,13% so với cùng kỳ năm 2014.

     

    sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng đạt 13.742tấn,  5,39% so với năm 2013, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng là 132.353 tấn giảm  2,25% so với năm 2013, trong 09 tháng đầu năm 2015 Sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng ước đạt 15.250 tấn, tăng 5,22% so với cùng kỳ năm 2014.

     

     Sản lượng thịt gia cầm đạt 41.612 tấn tăng5,21% so với năm 2013. Số lượng trứng gia cầm đạt 438.752 nghìn quả, giảm 6,82% so với năm 2013. Trong 09 tháng đầu năm 2015 Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng 9 tháng ước đạt 45 nghìn tấn, trong đó thịt gà xuất chuồng ước đạt 24.470 tấn, tăng 5,99 % so với cùng kỳ năm 2014; vịt xuất chuồng ước đạt 5 250 tấn, tăng 5,2% so với cùng kỳ; cả năm ước đạt 4.105 tấn, tăng 4,36% so với cùng kỳ năm 2014.

     

    Sản lượng trứng gà ước đạt 225.600 nghìn quả, tăng 9,91% so với cùng kỳ năm 2014. Sản lượng trứng vịt ước đạt 119 050 nghìn, tăng 13,37 so với cùng kỳ năm 2014. Sản lượng trứng ngan, ngỗng ước đạt 14 480 tấn.

     

    - Về phương thức sản xuất chăn nuôi:  Chăn nuôi nông hộ quy mô nhỏ lẻ giảm 30-35% (giảm nhiều nhất là nông hộ chăn nuôi Lợn) chuyển dần hình thức chăn nuôi gia trại ra khỏi vùng dân cư, phổ biến nhất là thình thức gia trại ao-chuồng tại Nghi Lộc, Yên Thành, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Đô Lương...và chăn nuôi theo mô hình gahp( thuộc dự án lifsap)

     

    Về trang trại chăn nuôi: - Theo thông tư số 69/2000/TTLT-BNN-TCTK: toàn tỉnh có 457 trang trại chăn nuôi, chiếm 16,5% tổng trang trại cả tỉnh. Tuy nhiên, theo Thông tư số 27/2011/TT-BNN có 121 trang trại đạt tiêu chí gồm: 54 trang trại chăn nuôi lợn, 32 trang trại chăn nuôi gà vịt, 41 trang trại chăn nuôi tổng hợp; theo các tiêu chí tại công văn số 824/CN-GSN, ngày 13 tháng 8 năm 2012 của  Cục  Chăn nuôi về các trang trại Quy mô lớn: có 199 TT trong đó: 68 tt chăn nuôi lợn, 99 TT chăn nuôi gà, 15 TT chăn nuôi trâu bò, 17 TT chăn nuôi hỗn hợp.

     

    -  Đã hình thành các chuỗi liên kết trong chăn nuôi  lợn, gia cầm theo hình thức gia công  (trang trại CP, Japfa); Liên kết đầu tư thu mua sản phẩm trong chăn nuôi lợn (trang trại Thái Dương, Yên Thành); Hiệp đồng cung cấp con giống, tiêu thụ sản phẩm sữa (Vinamilk).

     

    - Thành lập các tổ hợp tác nhóm GAHP, HTX chăn nuôi (dự án LIFSAP).

     

    Qua gần 02 năm thực hiện theo Quyết định số: 6593/QĐ-UBND ngày 31/12/2013 của UBND tỉnh Nghệ An về việc phê duyệt đề án tái cơ cầu ngành nông nghiệp tỉnh Nghệ An theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững giai đoạn 2013 -2020, ngành chăn nuôi đã chuyển dần chăn nuôi từ vùng mật độ dân số cao (đồng bằng) đến nơi có mật độ dân số thấp (trung du, miền núi); hình thành các vùng chăn nuôi xa thành phố, khu dân cư; chuyển dịch cơ cấu theo hướng tăng tỷ trọng gia cầm trong đàn vật nuôi; Khuyến khích áp dụng công nghệ cao, tổ chức sản xuất khép kín hoặc liên kết giữa các khâu trong chuỗi giá trị từ sản xuất giống, thức ăn, đến chế biến để nâng cao năng suất, cắt giảm chi phí, tăng hiệu quả và giá trị gia tăng; phát triển chăn nuôi gắn với vấn đề xử lý chất thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm và phòng chống dịch bệnh.

     

    Đẩy mạnh thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư doanh nghiệp để phát triển chăn nuôi theo hướng: chuyển chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang phát triển chăn nuôi tập trung quy mô công nghiệp; phát triển chăn nuôi trang trại, gia trại, chăn nuôi nông hộ theo hình thức công nghiệp, áp dụng kỹ thuật và công nghệ phù hợp để tạo cơ hội sinh kế cho hộ nông dân. Chuyển dần chăn nuôi từ vùng mật độ dân số cao (đồng bằng) đến nơi có mật độ dân số thấp (trung du, miền núi); hình thành các vùng chăn nuôi xa thành phố, khu dân cư; chuyển dịch cơ cấu theo hướng tăng tỷ trọng gia cầm trong đàn vật nuôi; Khuyến khích áp dụng công nghệ cao, tổ chức sản xuất khép kín hoặc liên kết giữa các khâu trong chuỗi giá trị từ sản xuất giống, thức ăn, đến chế biến để nâng cao năng suất, cắt giảm chi phí, tăng hiệu quả và giá trị gia tăng; phát triển chăn nuôi gắn với vấn đề xử lý chất thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm và phòng chống dịch bệnh.

     

    Giám sát và kiểm soát dịch bệnh hiệu quả; tăng cường dịch vụ thú y; quy định chặt chẽ việc quản lý và sử dụng thuốc thú y; áp dụng tiêu chuẩn an toàn thực phẩm theo chuỗi giá trị; phát triển hệ thống lò giết mổ tập trung để quản lý dịch bệnh và kiểm soát giết mổ.

     

    Tập trung phát triển các sản phẩm chăn nuôi có lợi thế của tỉnh, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và chế biến, góp phần vào tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cụ thể:

     

    +Phát triển chăn nuôi trâu, bò: phấn đấu đến hết năm 2015 tổng sản lượng thịt hơi XC 23.000 tấn (trong đó: tổng sản lượng thịt hơi XC trâu: 8.000 tấn;  bò: 15.000 tấn). Đến năm 2020 đạt tổng sản lượng thịt hơi XC 30.000 tấn (trong đó: trâu: 10.000 tấn; bò: 20.000 tấn)

     

    Tập trung phát triển chăn nuôi bò thịt chất lượng cao và trang trai chăn nuôi bò sữa quy mô công nghiệp, phấn đấu đến hết năm 2015 đạt tổng đàn 47.000 con  (28.000 con cho sữa thường xuyên); sản lượng sữa đạt 300.000 tấn và đến năm 2020 đạt 147.000 con (90.000 con cho sữa), sản lượng sữa 850.000 tấn.

     

    + Phát triển chăn nuôi lợn chất lượng cao: phấn đấu sản lượng thịt hơi XC hết năm 2015 đạt 150.000 tấn và đến năm 2020 đạt 180.000 tấn.

     

    +Phát triển chăn nuôi gia cầm: phấn đấu sản lượng thịt hơi XC hết năm 2015 đạt 42.000 tấn và đến năm 2020 đạt 45.000 tấn.

     

    + Tập trung chỉ đạo phát triển cây thức ăn phục vụ chăn nuôi, phấn đấu đến hết năm 2015 diện tích trồng cây thức ăn tập trung (ngô, cỏ) đạt 20.000 ha, 40.000 ha vào năm 2020.

     

    Nguồn tin: P. Chăn nuôi

 

Nghe nhạc