Trang TTĐT Sở NN&PTNT Nghệ An

thông tin chi tiết

  • Ứng dụng thuốc trừ sâu, bệnh thảo mộc giải pháp nâng cao chất lượng chè, rau, quả ở Nghệ An
    19/08/2015 08:29
  • Hiện nay, Nghệ An là trong số ít địa phương có chủng loại cây trồng đa dạng trong bối cảnh chịu ảnh hưởng tác động trực tiếp của biến đổi khí hậu.
  • Như vậy, sự phát sinh nhiều loài sâu, bệnh hại cây trồng đã và đang có chiều hướng diễn biến phức tạp, khó lường. Thậm chí, nhiều loài sâu, bệnh mới trước đây chưa có nay đã, đang xuất hiện và gây hại phổ biến ở Nghệ An như: Bệnh lùn sọc đen trên lúa, ngô; bệnh chồi cỏ mía; rệp sáp bột hồng gây hại trên sắn,... Để bảo vệ cây trồng, Nghệ An hằng năm đã phải sử dụng tới trên dưới 450 tấn thuốc BVTV trừ sâu, bệnh. Bên cạnh mục đích bảo vệ được hiệu quả cho cây trồng thì vấn đề sử dụng thuốc này có nhiều hạn chế như: Gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tới chất lượng thực phẩm, rau quả và gây hại trực tiếp cho sức khỏe gia súc và đặc biệt là con người. Không chỉ có vậy, chúng đồng thời gây ra sự kháng và nhờn thuốc đối với một số loài côn trùng có hại, tiêu diệt các loài côn trùng có lợi và làm mất cân bằng sinh thái. Do vậy, việc nghiên cứu, ứng dụng nhằm tìm kiếm các hoạt chất từ thiên nhiên để làm chế phẩm cho lĩnh vực bảo vệ thực vật, nhằm đảm bảo năng suất cây trồng mà không gây độc hại cho môi trường, gia súc và sức khoẻ con người là một hướng đi được đặt ra cấp bách hiện nay.

     

    Thuốc bảo vệ thực vật nguồn gốc thảo mộc có những ưu điểm cơ bản như là các hợp chất thiên nhiên dễ bị phân huỷ sau khi sử dụng nên không để lại dư lượng ở trong đất và trong nông sản, ít độc hại, không gây ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái và ít bị hiện tượng kháng và nhờn thuốc. Vì thế, hướng nghiên cứu, ứng dụng các hợp chất tự nhiên ứng dụng làm thuốc bảo vệ thực vật là một hướng nghiên cứu có ứng dụng cao vào thực tiễn giảm thiểu thuốc trừ sâu, bệnh hóa học và góp phần phát triển bền vững nền nông nghiệp của Nghệ An.

     

    Hiện nay trên thế giới, nhiều nước đã tiến hành nghiên cứu và ứng dụng thuốc BVTV có nguồn gốc thảo mộc để giảm tải việc sử dụng thuốc trừ sâu, bệnh có nguồn gốc hóa học. Để hướng tới những biện pháp bảo vệ thực vật an toàn và thân thiện với môi trường, thế giới đã và đang tập trung vào việc nghiên cứu nhằm tạo ra các loại thuốc trừ sâu mới. Một trong những ví dụ điển hình là các hợp chất pyrethroit từ hoa họ cúc, được ước tính là cung cấp một phần ba sản lượng thuốc trừ sâu của thế giới. Điều đó minh chứng rằng thực vật có chứa các lớp chất rất phong phú có hoạt tính trừ sâu để phục vụ lĩnh vực bảo vệ thực vật trong nông nghiệp.

     

    Do đó, việc tìm kiếm các sản phẩm bảo vệ thực vật an toàn trong thế kỷ mới để ngăn chặn sự phá hoại của côn trùng một cách chọn lọc (giết côn trùng có hại nhưng không gây hại cho các đối tượng sinh học khác), nhanh phân huỷ ngoài môi trường, ít gây độc đối với người và gia súc, và đảm bảo nguồn lương thực cho thế giới. Lịch sử đã có tài liệu chứng minh việc sử dụng thuốc trừ sâu có từ thời kỳ Homer khoảng 1.000 năm trước công nguyên, tuy nhiên những ghi chép đầu tiên cho thấy việc sử dụng này là do đốt nóng tạo hơi lưu huỳnh. Một số các kỹ thuật đã được ghi lại trong cuốn sách Lịch sử tự nhiên của Pliny Elder (năm 23 đến năm 79 trước công nguyên) là việc dùng dịch chiết từ hạt tiêu, thuốc lá, xà phòng, nước vôi, dấm, dầu cá, lưu huỳnh,... Cho tới nay, có khoảng 2000 loài thực vật được biết đến là có giá trị trừ  sâu. Một trong những ví dụ điển hình về thuốc trừ sâu có nguồn gốc thực vật: Azadirachtin, Rotenone, Pyrethrum /Pyrethrins, Rocaglamide,...

     

    Ở nước ta từ lâu, theo kinh nghiệm nhân dân ta cũng đã có một số nơi dùng các bộ phận khác nhau của cây xoan để làm thuốc trừ sâu, mọt. Năm 1992, kinh nghiệm này cũng đã được Trần Minh Tâm sử dụng để chế tạo ra chế phẩm trừ đuổi mọt ở trong kho lương thực. Năm 1995, Nguyễn Duy Trang cũng đã thử nghiệm sơ bộ hiệu lực dịch chiết của lá và quả xoan trên sâu tơ và sâu khoang, rệp, bọ nhảy, mối, rầy nâu. Kết quả cho thấy có tác dụng khả quan. Cây neem được du nhập vào Việt Nam từ năm 1988, do GS Lâm Công Định, Viện Lâm nghiệp Việt Nam mang hạt về từ Ấn Độ. Hiện có hơn 7.000 ha loại cây này được trồng và diện tích này đang tiếp tục được gia tăng nhờ tính chịu hạn cũng như tác dụng và giá trị kinh tế đem lại. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, hầu như tất cả các bộ phận của cây neem đều chứa chất có hoạt tính sinh học, nhiều nhất ở hạt và lá như chiết xuất từ dầu neem: Có ba hoạt chất là nimbin, nimbinin, nimbidin. Từ hạt chứa hoạt chất azadirachtin và từ lá neem được nghiên cứu là một hợp chất có hoạt tính trừ sâu khá mạnh. Ở Ấn Độ đã có tới 100 sản phẩm được chế từ chế phẩm của cây neem, còn ở Việt Nam đã có một số công trình tách chiết hoạt chất từ hạt neem để làm thuốc trừ sâu và các tác giả đều cho thấy thuốc trừ sâu thảo mộc từ neem tuy không mạnh bằng thuốc trừ sâu hóa học nhưng phổ diệt rộng, không gây lờn thuốc, thời gian tác động kéo dài đặc trưng cho thuốc trừ sâu sinh học. Một số nhà nghiên cứu đã sản xuất thuốc bảo vệ thực vật từ hạt neem cho kết quả khả quan như: Hiệp hội rau quả Đà Lạt, đã sản xuất được 3 dạng chế phẩm từ neem có tác dụng diệt mối, ve, bọ chét, rệp đen, bọ trĩ. Chế phẩm thảo mộc trừ bọ trĩ cho kết quả khá cao (63,20%) và gần tương đương với thuốc hóa học Abamectin  66,70 (%), chế phẩm trừ nấm vì một số lí do vì độ tan và độ bám dính nên mặc dù có hiệu lực phòng trừ nấm bệnh nhưng chưa được cao. Ở Nghệ An có rất nhiều loài thảo mộc có thể tách chiết cung cấp vật liệu cho việc sản xuất thuốc trừ sâu thảo mộc như: Nghệ vàng, trầu không, bạch đàn, bời lời, lim xanh, xoan, thầu dầu, bồ kết, cà độc dược, dây mật, ....

     

    Như vậy, Nghệ An với diện tích rau vụ Xuân 10.791ha, vụ Hè thu 6.544ha, vụ Đông 10.664ha;  Chè 10.786ha, trong đó chè búp giai đoạn kinh doanh 5.610ha, chè hái lá 1.860ha; Cam 3.057ha, trong đó cam giai đoạn kinh danh 1.680ha thì việc triển khai nghiên cứu ứng dụng thuốc trừ sâu bệnh thảo mộc hiện nay sẽ rất cấp bách để giảm tải sử dụng thuốc trừ sâu, bệnh hóa học nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm rau, quả, chè là cần thiết và cấp bách.

     

                                                                                     ThS. Phan Duy Hải - Chi cục BVTV Nghệ An

 

Nghe nhạc