Trang TTĐT Sở NN&PTNT Nghệ An

thông tin chi tiết

  • Sản xuất chè Nghệ An và giải pháp cho phát triển bền vững trong điều kiện biến đổi khí hậu hiện nay
    06/08/2015 17:12
  • Chè là một trong những cây trồng chính có giá trị kinh tế cao của Nghệ An. Cây chè đã tạo công ăn việc làm cho hàng vạn lao động nông thôn vùng các huyện trung du, miền núi; Sản phẩm chè khô Nghệ An là mặt hàng nông sản xuất khẩu đạt khoảng 10 triệu USD/năm.
  • Mặt khác sản phẩm chè xanh "nước chè xanh" có thể nói là thứ đồ uống không thể thiếu được đối với người xứ Nghệ. Cố nhạc sỹ An Thuyên đã có tác phẩm nổi tiếng Ca dao em và tôi với câu "trưa nắng hè, gọi nhau râm ran chè xanh" đó là một trong những đặc điểm dân giã của con người làng quê xứ Nghệ. Tuy nhiên nghề trồng chè hiện nay cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, rủi ro bởi tác động của yếu tố thời tiết, sâu bệnh hại, giá vật tư đầu vào cao, thị trường tiêu thụ khó khăn, tình trạng tranh mua tranh bán,...Bài viết này chúng tôi muốn đề cập đến tác động của thời tiết nắng hạn và đề xuất một số giải pháp cho sản xuất chè bền vững ở Nghệ An trong điều kiện biến đổi khí hậu hiện nay. 

     

     1. Vài nét về tình hình sản xuất chè hiện nay của Nghệ An.

     

    - Về quy hoạch:

     

     Cây chè được quy hoạch trồng chủ yếu ở các huyện trung du, miền núi của tỉnh. Theo Quyết định số 6290/QĐ-UBND ngày 24/12/2013 của UBND tỉnh Nghệ An v/v phê duyệt điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển vùng chè công nghiệp tỉnh Nghệ An giai đoạn 2013 - 2020 thì mục tiêu quy hoạch đến năm 2015: Diện tích chè toàn tỉnh là 12.000 ha, diện tích chè kinh doanh 7.592 ha, năng suất 115 tạ/ha, sản lượng búp tươi 87.308 tấn, tương đương 17.460 tấn búp khô. Đến năm 2020: Tổng diện tích chè 12.000 ha, diện tích chè kinh doanh 12.000 ha, năng suất 130 tạ/ha, sản lượng búp tươi 156.000 tấn, tương đương 31.200 tấn búp khô. Tập trung chủ yếu tại 6 huyện: Thanh Chương 5.770ha, Anh Sơn 3.200ha, Con Cuông 1.500ha, Kỳ Sơn 1.000ha, Quỳ Hợp 230ha, Tương Dương 300ha.

     

     UBND Tỉnh có Quyết định số 448/QĐ-UBND ngày 31/01/2013 V/v phê duyệt Quy hoạch vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất chè tại Nghệ An với diện tích đến năm 2015 là 1.000 ha, diện tích chè kinh doanh 1.000 ha, năng suất 200 tạ/ha, sản lượng búp tươi 20.000 tấn. Đến năm 2020: Diện tích vùng Nông nghiệp UDCNC trong sản xuất chè là 3.500 ha, diện tích chè kinh doanh 3.500 ha, năng suất 250 tạ/ha, sản lượng búp tươi 87.500 tấn. Diện tích vùng chè UDCNC tập trung ở 4 huyện Thanh Chương, Anh Sơn, Con Cuông, Kỳ Sơn.

     

    - Kết quả trồng chè đến năm 2014:

     

    + Năm 2014, Tổng diện tích chè toàn tỉnh là 10.786 ha, trong đó chè búp đạt 7.056 ha (diện tích cho sản phẩm là: 5.610 ha, năng suất trên diện tích cho sản phẩm là 113,16 tạ/ha), chè hái lá đạt 3.730 ha (diện tích cho sản phẩm là: 2.569 ha, năng suất trên diện tích cho sản phẩm là 152,03 tạ/ha).

     

    + Năm 2015, kế hoạch trồng mới 1.000 ha chè.

     

     + Về cơ cấu giống chè: Hiện nay trên địa bàn tỉnh Nghệ An vẫn phát triển các giống chè công nghiệp chính là giống LDP1, LDP2, Tuyết Shan. Giống chè mới LDP 1-2 có diện tích trên 6.200 ha chiếm trên 89% diện tích. Còn lại là giống PH1 với diện tích 238,7 ha, chè Shan 424 ha và một số ít diện tích trồng chè giống khác (giống Trung Du…).

     

    - Về chế biến chè: Toàn tỉnh có 86 cơ sở chế biến với tổng công suất thiết kế 527 tấn/ngày, với nhu cầu cần lượng nguyên liệu chế biến là 120.000 tấn/năm (thời gian chế biến 230 ngày/năm). Trong đó: Công ty TNHH MTV đầu tư và phát triển chè Nghệ An có công suất chế biến thiết kế là 243 tấn/ngày  trong đó có 4 dây chuyền chè CTC với tổng công suất:96 tấn chè búp/ngày và 9 dây chuyền chè xanh với tổng công suất: 147 tấn chè búp/ngày. Với khả năng chế biến 55.000 – 60.000 tấn chè búp tươi/năm (thời gian chế biến 230 ngày/năm), tương đương 10.000 - 12.000 tấn chè khô/năm. Trong đó sản phẩm chè CTC chiếm 40%; chè xanh chiếm 60 %. Thực tế chế biến hiện nay của công ty chỉ đạt có 58 % công suất thiết kế, tương đương sản lượng chế biến 32.000 tấn búp tươi/năm. Ngoài ra còn có 2 công ty (công ty TNHH Chè Trường Thịnh, Công ty CP Rồng Phương Đông) có dây chuyền chế biến khá lớn và 74 cơ sở chế biến mini cùng tham gia chế biến chè.

     

    - Về thu hoạch chè: Tính đến năm 2014 toàn tỉnh đã có trên 1100 máy hái chè, trong đó Công ty TNHH một thành viên ĐTPT chè Nghệ An có 950 máy. Việc ứng dụng máy hái chè đã thực sự được áp dụng rộng rãi, giúp người dân giải quyết được công lao động, hiệu quả sản xuất tăng lên rõ rệt. Tuy nhiên những người sử dụng không có kỹ năng, sử dụng không đúng kỹ thuật sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng chè, đặc biệt vào mùa nắng hạn.

     

     

    Mô hình trồng chè Vietgap  tại Thanh Mai - thanh Chương

     

    2. Ảnh hưởng của nắng hạn đến sản xuất chè ở Nghệ An

     

    Chúng ta biết cây chè có đặc điểm sinh trưởng và phát triển mạnh trong khoảng nhiệt độ từ 22 - 250C; dưới 100C chè ngừng sinh trưởng; trên 300C chè sinh trưởng chậm và 400C các bộ phận non của chè bị cháy. Cây chè ở vùng nguyên sản sống dưới tán rừng rậm cho nên nó có tính chịu bóng cao, cây chè quang hợp tốt trong điều kiện ánh sáng tán xạ; Ánh sáng trực xạ và nhiệt độ không khí cao không có lợi cho quanh hợp và sinh trưởng của cây chè.

     

    Những năm gần đây do tác động của biến đổi khí hậu, trong đó nắng hạn đã ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng cây chè. Theo báo cáo của các địa phương có trồng chè trong năm 2013, 2014 đã có hàng trăn ha chè của huyện Anh Sơn, Thanh Chương,...bị cháy lá, trong đó có hàng chục ha bị chết khô không phục hồi được phải phá trồng lại. Đặc biệt đợt nắng hạn lịch sử năm nay đã làm cho 2.287ha chè bị cháy lá thiệt hại từ 30-70% và 917,3ha bị chết thiệt hại trên 70% gây thiệt hạt nặng nề cho người trồng chè, đặc biệt số diện tích chè bắt đầu bước vào thời kỳ kinh doanh.

     

    - Nguyên nhân: Bước đầu xác định có 2 nguyên nhân chính làm cho chè bị cháy lá và chết đó là:

     

    + Do nắng hạn bất thường kéo dài trong hơn 30 ngày liên tục có nhiệt độ trên 350C, có ngày trên 400C, chè thiếu nước cùng với độ ẩm không khí thấp dẫn đến chè bị cháy lá và chết.

     

    + Do việc khai thác vườn chè quá mức (kỹ thuật thu hái, đặc biệt là việc hái chè bằng máy trong thời kỳ xẩy ra nắng hạn) làm cho vườn chè bị suy kiện giảm khả năng chống chịu khi gặp nắng hạn.

     

    Ngoài ra còn có nguyên nhân khác như Kỹ thuật chăm sóc vườn chè, làm cỏ, tủ gốc; Trồng cây che bóng (Có tán cây che bóng chè ít cháy và chết hơn); Yếu tố về giống (giống LHP2 chịu hạn tốt hơn giống PH1); Công tác thủy lợi tưới cho chè; Vùng đất trồng chè (chè trồng ở độ dốc cao, trực diện với ánh nắng mặt trời bị cháy và chết nhiều hơn),...  

     

    3. Giải pháp cho sản xuất chề bền vừng ở Nghệ An

     

    Xuất phát từ những tồn tại, hạn chế trong công tác sản xuất chè trong thời gian qua chúng tôi đề xuất một số giải pháp sau:

     

    a, Quy hoạch trồng chè: Công tác quy hoạch có tầm quan trọng và phải đi trước một bước, trên cơ sở quy hoạch trước đây UBND tỉnh đã giao cho Sở NN&PTNT rà soát để "Điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển vùng chè công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến năm 2020, phân vùng nguyên liệu cho các cơ sở chế biến chè trên địa bàn tỉnh" trình UBND tỉnh phê duyệt trong năm 2015. Quy hoạch phải đạt được các yêu cầu là có đủ diện tích trồng bảo đảm đủ nguyên liệu cho các cơ sở chế biến, vùng đất phù hợp với đặc điểm cây chè, không trồng lấn lên quy hoạch cây trồng khác; Độ dốc vườn chè (không nên trồng chè có độ dốc trên 250),...và đặc biệt là phải phân vùng trồng chè gắn với cơ sở chế biến nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định, bền vững có hiệu quả cho người trồng chè và cơ sở chế biến,...

     

    b, Về sử dụng giống:

     

    Tùy vào điều kiện đất đai, tiểu khí hậu, công nghệ chế biến, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài nước để lựa chọn giống cho phù hợp, đặc biệt trong điều kiện nắng hạn ngày càng gay gắt hiện nay. Hiện trên địa bàn Nghệ An đang sử dụng một số giống chính như LDP1, LDP2, PH1, Tuyết Shan, Một ít chè Trung du,...trong đó giống PH1 tính chịu hạn kém nên chỉ bố trí ở vùng đất có tưới, có độ ẩm cao, còn chè Tuyết Shan trồng ở huyện Kỳ Sơn. Ngoài các giống trên cần tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu, du nhập (hiện Sở NN đang giao Trung tâm giống cây trồng) trồng khảo nghiệm một số giống mới để đánh giá, lựa chọn ra giống có chất lượng, năng suất và chống chịu hạn, rét đưa vào cơ cấu trong thời gian tới.

     

    c, Về quy trình kỹ thuật:

     

    Tăng cường công tác chỉ đạo, hướng dẫn người trồng chè thực hiện đúng quy trình kỹ thuật của Sở NN&PTNT đã ban hành. Các địa phương, Công ty TNHH một thành viên ĐTPT chè Nghệ An,...trên cơ sở quy trình chung cần căn cứ vào đặc điểm của từng giống chè để xây dựng đưa ra quy trình phù hợp cho từng vùng trồng và hướng dẫn người thực hiện đúng quy trình kỹ thuật theo hướng thâm canh để chè phát triển tốt ngay từ thời kỳ trồng mới, kiến thiết cơ bản và kéo dài thời gian thu hoạch chè. Trong đó cần chú ý:

     

    - Trồng cây che bóng đúng mật độ, tạo tán hợp lý nhằn bảo đảm cho chè quang hợp tốt, hạn chế nắng hạn, sâu bệnh hại và không ảnh hưởng đến năng suất.

     

    - Trồng xen các cây họ đậu, cỏ,...hợp lý ở thời kỳ chè trồng mới và KTCB vừa tăng thu nhập vừa có tác dụng chống hạn, cải tạo đất,..

     

    - Đầu tư chăm bón đúng quy trình, bón đủ lượng phân, làm cỏ kịp thời, hợp lý, tạo tỉa tán thời kỳ KTCB, đốn chè đúng kỹ thuật,...

     

    - Thu hái đúng kỹ thuật theo hướng luôn tạo sự thúc đẩy chè sinh trưởng phát triển, không được khai thác vườn chè quá mức (khi có giá cao), đặc biệt việc sử dụng máy hát chè trong mùa nắng hạn (cần dừng hái đúng lúc) nếu hái quá đau sẽ làm cho chè thoát hơi nước nhanh dễ gây ra cháy lá và có thể chết khi trời nắng có nhiệt độ không khí cao. 

     

    - Áp dụng quy trình trồng chè theo hướng VietrGap, phòng trừ sâu bệnh kịp thời bằng các loại thuốc được phép sử dụng trên cây chè, bảo đảm thời gian cách ly để có sản phẩm chè an toàn, đủ tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu xuất khẩu, tiêu thụ chè.

     

    d, Công tác chế biến:

     

    Rà soát từng cơ sở chế biến chè trên địa bàn theo các quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sở chế biến chè theo Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, những cơ sở không đáp ứng Quy chuẩn kỹ thuật mà trước hết là không có vùng nguyên liệu thì kiên quyết xử lý theo quy định của pháp luật; giám sát việc thu mua nguyên liệu của các cơ sở chế biến, tránh tình trạng tranh mua, tranh bán chè như hiện nay. Thực hiện nghiên việc quy hoạch trồng chè gắn với cơ sở chế biến đến năm 2020 bảo đảm sự phát triển bền vững các bên cùng có lợi.

     

    đ, Về thị trường tiêu thụ

     

    Đẩy mạnh công tác tìm kiếm thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước, đặc biệt thị trường xuất khẩu. Ngoài thị trường chủ yếu như: Pakistan, Trung Quốc, Afganistan, Israel, Ba Lan, Nga, Iran, Anh,...tiếp tục tìm kiếm mở rộng thị trường xuất khẩu ra các nước tiềm năng có giá trị cao như: Tây Âu, Bắc Âu, Nhật Bản và Bắc Mỹ,...

     

     g, Cơ chế chính sách

     

    - Thực hiệntheo Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013 của Chính Phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn; Quyết định số 01/2012/QĐ-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ việc áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg của Chính Phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn

     

    -Tiếp tục thực hiện chính sách Hỗ trợ đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An theo Quyết định số 87/2014/QĐ-UBND ngày 17/11/2014 của UBND tỉnh Nghệ An.

     

    h, Công tác thông tin, tuyên truyền:

     

    Đẩy mạnh công tác thông tin thuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, nhân dân và doanh nghiệp trong phát triển sản xuất kinh doanh chè, đặc biệt là nhận thức của cộng đồng về sản xuất chè an toàn.

     

    i,  Công tác quản lý nhà nước về sản xuất kinh doanh chè:

     

    - Tăng cường công tác quản lý vùng nguyên liệu, kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng kinh tế giữa các doanh nghiệp và các hộ dântrong việc sản xuất chè, nhất là việc thu mua nguyên liệu và giá cả thu mua.

     

    - Kiểm tra, quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm của các cơ sở chế biến chè; Kiểm tra việc kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV trên chè; Kiểm tra việc thực hiện nghĩa vụ thuế của các doanh nghiệp, thực thi các quy định của nhà nước nghiêm túc nhằm động viên khích lệ, phát huy hiệu quả tiềm năng lợi thế của vùng đất và con người xứ Nghệ.

     

    Nguyễn Đình Hương - Phòng trồng trọt Sở NN&PTNT 

 

Nghe nhạc