Trang TTĐT Sở NN&PTNT Nghệ An

thông tin chi tiết

  • Để ngành chè phát triển bền vững: Những yếu kém cần tập trung khắc phục!
    16/07/2015 16:53
  • Nghệ An là địa phương có diện tích chè vào loại lớn của cả nước. Đến nay Nghệ An đã xây dựng được vùng nguyên liệu chè công nghiệp với diện tích hơn 8.000 ha trong đó diện tích chè kinh doanh hơn 6.000 ha. Sản lượng chế biến hằng năm đạt 9-10 ngàn tấn trong đó xuất khẩu từ 5- 6 ngàn. Có thể nói trong các sản phẩm xuất khẩu của Nghệ An thì chè khô là sản phẩm mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn, ổn định nhất đóng góp không nhỏ cho phát triển kinh tế tỉnh nhà.
  • Cây chè Nghệ An đã dần khẳng định thương hiệu có vị trí vững chắc trong ngành chè cả nước cũng như chinh phục thành công nhiều thị trường trên thế giới. Những thành công của cây chè Nghệ An hiện tại xứng đáng được vinh danh và ghi nhận công sức biết bao thế hệ, cả những người làm công tác quản lý và người dân, người công nhân trực tiếp trồng, chăm sóc, chế biến chè.

     

    Từ chỗ chỉ có Công ty Đầu tư Phát triển Chè Nghệ An hiện nay đã xuất hiệnnhiều đơn vị đầu tư vào ngành sản xuất chế biến chè của tỉnh, cả tổ chức lẫn cán nhân, chủ yếu là đầu tư vào công đoạn chế biến sản phẩm, điển hìnhnhưCông ty TNHH Rồng Phương Đông, Công ty TNHH Trường Thịnh, Công ty TNHH Trường Thịnh Việt Nam… Đặc biệt giờ đây đầu tư nhà xưởng, thiết bị chế biến chè không chỉ có các công ty có số vốn lớn mà ngay cả người dân cũng tham gia. Theo thống kê sơ bộ, hiện nay toàn tỉnh cóhơn60 cơ sở chè thủ công có công suất từ 0,5 tấn - 10 tấn/ngày hoạt động, trong đó tập trung nhiều nhất ở huyện Thanh Chương với 54 cơ sở, các huyện còn lại Anh Sơn 06cơ sở, Con Cuông 02 cơ sở. Đặc biệt tại địa bàn xã Thanh Thịnh -Thanh Chương có tới 34 cơ sởchế biến chè thủ công. Việc có nhiều tổ chức, cá nhân đầu tư vào ngành chè là dấu hiệu tốt để phát triển ngành chè Nghệ An, giúp người dân trồng chè nguyên liệu tiêu thụ sản phẩm dễ dàng hơn, giá cả cạnh tranh hơn nhưng nếu không quản lý tốt sẽ nảy sinh nhiều vấn đề bất cập. Không kịp thời nhìn nhận để tìm hiểu nguyên nhân và có giải pháp khắc phục ngay từ bây giờ thì trong tương lai gần ngành chè Nghệ An sẽ đối mặt với rất nhiều khó khăn.

     

    Trong chế biến nông sản nói chung chế biến chè nói riêng khi thành lập nhà máy đòi hỏi phải chủ động được nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến trên cơ sở công suất chế biến tương ứng với sản xuất nguyên liệu. Bộ Nông nghiệp & PTNT đã quy định các cơ sở chế biến phải quy hoạch được nguồn nguyên liệu ổn định đáp ứng được 60% công suất chế biến. Việc đầu tư phát triển các cơ sở chế biến một cách ồ ạt trong thời gian qua đã phá vỡ cân bằng nguyên liệu chế biến chè của tỉnh. Đẩy các cơ sở chế biến chè của Nghệ An kể cả các nhà máy có công suất lớn của Công ty TNHH 1 thành viên Đầu tư phát triển chè Nghệ An cũng như các cơ sở sản xuất nhỏ vào cuộc cạnh tranh khốc liệt để dành nguyên liệu.

     

    Đầu tư nhà xưởng, thiết bị trong ngành chế biến chè cũng rất bất cập, xuất phát từ việc quản lý lỏng lẻo, đặc biệt là quản lý các cơ sở chế biến chè thủ công quy mô hộ. Để đầu tư 1 dây chuyền chế biến chè đồng bộ từ nhà xưởng, thiết bị đảm bảo tiên tiến nhằm tạo ra sản phẩm chất lượng đòi hỏi phải 15-20 tỷ đồng/dây chuyền. Trong lúc cơ sở chế biến thủ công chỉ đầu tư từ 1-2 tỷ đồng, có nhiều cơ sở đầu tư dưới 1 tỷ đồngvẫn cho ra sản phẩm chè khô. Với số tiền đầu tư đó người dân chỉ có thể đầu tư nhà xưởng, thiết bị đơn giản, công nghệ lạc hậu, sản phẩm chè khô dừng lại ở mức sơ chế và được bán cho các công ty tư nhân trong và ngoại tỉnhđể tái chế.

     

    Vốn đầu tư trang thiết bị, nhà xưởng, vốn lưu động để thu mua nguyên liệu của người dân chủ yếu huy động từ vốn vay. Có thể huy động từ vay ngân hàng, người quen và có cả huy động từ nguồn vay nóng trong thời gian cao điểm của vụ sản xuất. Theo ý kiến của chính những người trong cuộc hiện là chủ cơ sở sản xuất chè thủ công tại huyện Thanh Chương, rất nhiều cơ sở chế biến chè đang gặp nhiều khó khăn về vốn. Để bán được sản phẩm làm ra các cơ sở chế biến phải chịu cho các cơ sở thu mua ngoại tỉnh nợ tiền bán sản phẩm trong lúc tiền mua nguyên liệu phải trả cho người dân. Để duy trì hoạt động chủ cơ sở phải tiếp tục vay nợ, với tiềm lực kinh tế thấp, kinh nghiệm quản lý kinh tế không có, các chủ cơ sở này sẽ gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là trong điều kiện gặp biến động bất thường trong việc bán sản phẩm. Hiện nay đã có một số cơ sở chế biến chè trong tỉnh đóng cửa với lý do trên.

     

    Nguyên liệu chè tươi cung cấp cho các nhà máy trong tỉnh cũng gặp nhiều bất cập. Để sản xuất ra sản phẩm đạt chất lượng theo quy định chỉ thu hái đọt chè theo quy cách 1 tôm 2-3 lá. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì quy cách thu hái này đảm bảo chất lượng nguyên liệu đưa vào chế biến đồng thời dành sức cho  cây chè phát triển. Việc cạnh tranh trong thu mua nguyên liệu của các cơ sở chế biến đã phá vỡ nguyên tắc này. Người dân đã thu hái 1 tôm 3-5 lá thậm chí cắt cả những cành chè dài 15-20cm để nhập cho các cơ sở chế biến.

     

    Hiện nay hầu hết các địa phương đều sử dụng máy để thu hoạch chè tươi nguyên liệu. Không thể phủ nhận hiệu quả của việc sử dụng máy hái chè thời gian qua đã nâng cao hiệu suất lao động trong khâu thu hái. Tuy nhiên nếu thu hoạch nguyên liệu bằng máy không đúng quy cách không chỉ làm giảm chất lượng nguyên liệu mà còn có nguy cơ dẫn đến kiệt quệ cây chè, làm giảm tuổi thọ vườn chè. Hiện tượng chè chết hiện nay bên cạnh thời tiết khắc nghiệt nắng nóng kéo dài cũng có một phần cũng do nguyên nhân trên.Nguyên liệu không đảm bảo cũng lànguyên nhân chính dẫn đến chất lượng chè thành phẩm thấp, điều đó là tất yếu và ai cũng hiểu nhưng do phải cạnh tranh để có nguyên liệu nên các cơ sở chế biến đã bỏ qua điều đó.  

     

    Dư lượng thuốc Bảo vệ thực vật, kim loại nặng tồn dư trong sản phẩm chè cũng cần được kiểm soát. Hiện nay vùng chè nguyên liệu của Nghệ An đang cơ bản giám sát được dư lượng thuốc Bảo vệ thực vật nhưng với việc chạy theo lợi nhuận của một bộ phận người dân trồng chè sẽ không thể đảm bảo thời gian tới người dân sẽ không sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật, thuốc kích thích sinh trưởng một cách tràn lan gây hệ lụy cho cả vùng chè và phá vỡ thương hiệu chè Nghệ An đã duy trì được trong thời gian qua.

     

    Với thực trạng như đã đề cập ở trên đòi hỏi các cấp, các ngành, các tổ chức cá nhân liên quan phải chủ động trong công tác quản lý, sản xuất nguyên liệu, chế biến sản phẩm.

     

    Công ty TNHH 1 thành viên Đầu tư phát triển chè Nghệ An cần phát huy vai trò là đơn vị đầu tàu trong việc đầu tư phát triển chè của tỉnh. Chủ động trong phát triển nguyên liệu, thu mua và đầu tư dây chuyền thiết bị chế biến đảm bảo sản xuất sản phẩm có tính cạnh tranh cao để khẳng định và giữ vững thương hiệu chè Nghệ An. Giữa Công ty với chính quyền địa phương và người dân trồng nguyên liệu cần có sự hợp tác chặt chẽ với nhau tạo mỗi liên kết bền vững. Cần có giải pháp thu mua nguyên liệu cho người trồng chè hợp lý cả về giá cả và phương thức thanh toán đảm bảo cho người dân, trên cơ sở phân khúc lợi nhuận một cách hợp lý giữa công đoạn kinh doanh, chế biến và nguyên liệu.  

     

    UBND các huyện có nguyên liệu, cơ sở chế biến chè cần tăng cường vai trò quản lý tại địa bàn. Chủ động các phương án có thể xảy ra đặc biệt tại các địa phương có số lượng cơ sở chế biến thành lập quá nhiều như tại huyện Thanh Chương. Với các địa phươngchưa phát sinh nhiều cơ sở chế biến thủ công cần cân nhắc khi cấp giấy phép kinh doanh cho các đơn vị, cá nhân đầu tư chế biến chè tại địa bàn. Do chế biến chè được xếp vào loại sản xuất có điều kiện nên trước khi cấp giấy phép hoạt động các địa phương cần cân đối vùng nguyên liệu của mình. Tuyệt đối không cấp phép cho các cơ sở không đảm bảo yêu cầu. Có thể đề nghị các sở, ngành đơn vị chuyên môn thẩm tra về năng lực tài chính, trang thiết bị, nhà xưởng, điều kiện sản xuất sản phẩm đảm bảo chất lượng vệ sinh thực phẩm theo quy định của pháp luật.

     

    Bên cạnh đó cũng cần tăng cường quản lý phát triển nguyên liệu và công đoạn chăm sóc thu hoạch nguyên liệu phục vụ chế biến. Tăng cường tuyên truyền, tập huấn để người dân chăm sóc, khai thác và phát triển nguyên liệu một cách bền vững. Bên cạnh công tác tuyên truyền cần có cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ, xử lý nghiêm các hộ, cơ sở chế biến thu mua sản phẩm không đảm bảo theo quy định. Nên chăng tạo điều kiện để chính các cơ sở chế biến hình thành hiệp hội để giám sát lẫn nhau đồng thời giảm được sự cạnh tranh không cần thiết trong thu mua nguyên liệu và bán sản phẩm.

      

    Với người dân đang và có ý định tham gia đầu tư chế biến chè cũng cần cân nhắc kỹ trước khi tiến hành. Cần phải tiến hành tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc đặc biệt là thu hái sản phẩm bằng cách sử dụng máy hái chè cho người dân, đồng thời có chế tài phù hợp trong công tác quản lý, thu mua nguyên liệu để người trồng chè  nghiêm túc thực hiện việc thu hái đảm bảo chất lượng theo sự hướng dẫn của cán bộ  kỹ thuật.

     

    Định hướng đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030 của tỉnh Nghệ An thì cây chè vẫn được xác định là cây mũi nhọn để phát triển kinh tế tỉnh nhà. Để thực sự đưa ngành chè phát triển một cách đồng bộ, bền vững, các cấp, ngành địa phương, các đơn vị, cá nhân tham gia sản xuất, chế biến cần phải quan tâm hơn nữa để khắc phục những yếu kém đang tồn tại./.

     

                                                                                                    Thái Tuấn - CCQLCL

 

Nghe nhạc