Trang TTĐT Sở NN&PTNT Nghệ An

thông tin chi tiết

  • Báo cáo đánh giá tính bền vững, hiệu quả sử dụng các công trình nước sinh hoạt tự chảy các huyện Quỳ Châu, Kỳ Sơn và Anh Sơn
    26/06/2015 15:47
  • Thực hiện chỉ đạo của Sở nông nghiệp và PTNT tại văn bản số 1088/SNN.KHTC ngày 18/5/2015 về việc kiểm tra, báo cáo đánh giá hiệu quả sử dụng các công trình nước sinh hoạt tự chảy các huyện Quỳ Châu, Kỳ Sơn và Anh Sơn theo nội dung Báo Nghệ An đã nêu "Đầu tư và sử dụng nhiều công trình nước sinh hoạt tự chảy ở miền núi: Nhiều công tình bị bỏ hoang”.
  • Ngay sau khi có văn bản chỉ đạo của Sở Nông nghiệp và PTNT, Trung tâm nước sinh hoạt và VSMTNT đã có văn bản số 75/TTN.KHKT ngày 19/5/2015 gửi UBND các huyện Quỳ Châu, Kỳ Sơn và Anh Sơn đề nghị tổng hợp, cập nhật kết quả đầu tư xây dựng và tình hình sử dụng của tất cả các công trình cấp nước sinh hoạt tự chảy trên địa bàn 3 huyện đến hết năm 2014.

     

    Trên cơ sở làm việc với  UBND các huyện, phòng nông nghiệp và PTNT (các huyện Quỳ Châu, Anh Sơn) hoặc phòng công thương ( huyện Kỳ Sơn) về hiện trạng đầu tư xây dựng và tính bền vững, hiệu quả sử dụng các công trình liên quan đến nội dung mà Báo đã nêu nói trên.

     

    Trung tâm nước sinh hoạt và VSMTNT tổng hợp và báo cáo như sau:

     

    1. Kết quả đầu tư xây dựng và hiện trạng quản lý sử dụng công trình

     

    Các công trình cấp nước sinh hoạt được đầu tư xây dựng tại 3 huyện Quỳ Châu, Kỳ Sơn và Anh Sơn  hầu hết từ ngân sách nhà nước, hỗ trợ các tổ chức quốc tế, phi chính phủ...theo nhiều chương trình, dự án khác nhau (chương trình 135/CP, CT134, định canh định cư, kinh tế mới, các tổ chức NGO...). Nhiều công trình được đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng từ trước những năm 2000.

     

    Hình thức đầu tư các công trình chủ yếu là dạng cấp nước tự chảy, dẫn nước đến các bể công cộng để cấp nước cho các cụm dân cư. Nguồn nước chủ yếu sử dụng nước mặt từ các khe suối, cấp nước cho từng bản hoặc  một vài bản với lưu lượng 100-200m3/ngày đêm.

     

    Theo số liệu tổng hợp của các địa phương, trên địa bàn 3 huyện đến nay có 212 công trình cấp nước tự chảy (Kỳ Sơn: 168 công trình, Quỳ Châu: 36 công trình và Anh Sơn: 8 công trình).

     

    Về công tác đầu tư và hiện trạng quản lý: Các dự án cấp nước vùng miền núi hầu hết đều do UBND các huyện làm chủ đầu tư, một số ít dự án thì giao UBND xã trực tiếp làm chủ đầu tư triển khai thực hiện dự án. Sau khi thực hiện việc triển khai thi công xây dựng xong, tiến hành bàn giao cho UBND xã hoặc các đơn vị khác như trạm Thủy nông huyện (tại Quỳ Châu) và cộng đồng quản lý sử dụng. Tuy nhiên vẫn còn nhiều công trình hầu hết công tác quản lý vận hành đều không được tổ chức, thiếu các quy chế, quy định, tài liệu hướng dẫn, không có chi phí cho công tác duy tu bảo dưỡng, sửa chữa vận hành.

     

    2. Về hiệu quả sử dụng:

     

    Tính bền vững, hiệu quả sử dụng công trình được phân loại theo 3 nhóm: Loại công trình bền vững, hiệu quả; loại công trình kém hiệu quả và loại công trình không hoạt động.  Xác định tình trạng hoạt động của công trình dựa vào các tiêu chí theo hướng dẫn tại Quyết định số 2570/QD.BNN.TCTL ngày 22/10/2012 của Bộ Nông nghiệp và PTNT. Cụ thể là đánh giá về tổ chức, nhân sự quản lý vận hành, bảo dưỡng công trình (có hay không tổ chức quản lý vận hành, công tác đào tạo, hướng dẫn....); Hiệu suất hoạt động (trên cơ sở công suất hiện tại và công suất thiết kế);  Đảm bảo phí cho quản lý vận hành; Thất thoát nước; Nguồn nước cấp và chất lượng nước đầu ra. Riêng loại công tình không hoạt động được tính khi có 3 tháng liên tục không cấp nước.

     

    Với tiêu chí đánh giá như trên, trong tổng số 212 công trình tại 3 huyện, có 147 công trình hoạt động và có hiệu quả, chiếm 69%; Số công trình hoạt động kém hiệu quả 44 công trình, chiếm 21% và số công trình ngừng hoạt động ít nhất 3 tháng là 21 công trình chiếm 10%.

     

    3. Nguyên nhân các công trình hoạt động kém hiệu quả, hoặc không hoạt động

     

    3.1.  Về chủ quan:

     

    - Công tác truyền thông vận động cộng đồng không được chú ý trong quá trình thực hiện dự án. Chưa tạo ý thức trách nhiệm người sử dụng, cộng đồng hưởng lợi từ dự án về trách nhiệm bảo vệ, nghĩa vụ đóng góp trong quá trình sử dụng công trình. Quá trình triển khai dự án chỉ chú trọng công tác xây lắp mà không đầu tư cho các hoạt động phần mềm khác như đào tạo,  hướng dẫn cộng đồng về sửa chữa, bảo dưỡng công trình, hướng dẫn về công tác tổ chức quản lý vận hành, xây dựng và thông qua quy chế sử dụng;

     

    - Công tác quản lý vận hành sau đầu tư xây dựng không được chính quyền địa phương, đơn vị sử dụng quan tâm cả về hình thức tổ chức quản lý, đào tạo hướng dẫn, chu cấp các công cụ, dụng cụ sửa chữa hiện trường đến hỗ trợ ban đầu một phần chi phí cho công tác này. Do không có tổ chức quản lý sử dụng nên người hưởng lợi, thụ hưởng dự án chỉ biết khai thác sử dụng, thiếu ý thức bảo vệ giữ gìn. Các hư hỏng sự cố ban đầu nhỏ không được khắc phụ kịp thời đã kéo theo các hạng mục khác và đôi khi làm cả công trình xuống cấp nghiêm trọng thậm chí dẫn đến "bỏ hoang" như báo chí đã nêu. Nhiều công trình xảy ra hiện tượng tự đào, tháo lắp thêm đường ống dẫn nước cho các mục đích khác nhau, dẫn đến thiếu nước tại một số điểm cụm dân cư;

     

    - Trong kế hoạch thực hiện hàng năm ít chú ý đến việc sữa chữa, nâng cấp các công trình, hầu hết tập trung đầu tư xây dựng mới. Chất lượng công trình từ khâu khảo sát điều tra ban đầu đến thiết kế, thi công xây dựng, giám sát thi công, nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào sử dụng chưa thật chặt chẽ, làm giảm tính bền vững công trình.

     

    3.2 Về  khách quan:

     

    - Các công trình tự chảy xây dựng vùng miền núi với địa hình phúc tạp, tuyến ống dài đi qua nhiều khe suối, núi đá xa khu dân cư khó bảo quản, trông coi. Những năm gần đây nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan, lũ ống, lũ quét xảy ra thường xuyên dẫn đến nhiều hư hỏng của công trình, nhất là đập ngăn nước, tuyến ống khi đi qua các khe suối;

     

    Nhiều công trình sử dụng các loại ống nhựa PVC dễ vỡ, hư hỏng, dập bể khi va đập, hoặc quá trình thi công, đào bới làm đứt gãy.

     

    - Nhiều công trình tự chảy được xây dựng, đưa vào sử dụng từ nhiều năm nên việc xuống cấp, hư hỏng là khó tránh khỏi;

     

    - Các công trình cấp nước tự chảy sử dụng nguồn nước mặt, trong khi đó nguồn nước mặt ngày càng suy giảm, cạn kiệt, chất lượng kém, nhưng nhu cầu sử dụng ngày càng cao nên dẫn đến nhiều công trình không đủ nguồn nước cung cấp hoặc chỉ đủ cho một vài cụm dân cư giảm hiệu quả đầu tư của công trình.

     

    4. Đề xuất, kiến nghị

     

    Tồn tại trên 3 huyện trên là tình trạng chung của hệ thống các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn hiện nay trên toàn tỉnh. Kết quả đánh giá theo hướng dẫn của Thông tư 54/2013/TT-BTC Bộ Tài chính, có 119 ( chiếm 24%) công trình hoạt động kém hiệu quả và 111 công trình ( chiếm 23%) công trình ngừng hoạt động trong tổng số 490 công trình trên toàn tỉnh đã đầu tư đưa vào sử dụng. Để nâng cao hiệu quả đầu tư, kiến nghị:

     

    1. Trước mắt, giao Ban Dân tộc và miền núi phối hợp với Ủy ban nhân dân các huyện Quỳ Châu, Kỳ Sơn, Anh Sơn và các huyện miền núi khác điều tra, khảo sát và thực hiện sửa chữa những công trình hư hỏng nhiều để đáp ứng nhu cầu sử dụng nước của người dân.

     

    2. Cấp kinh phí cho Sở Nông nghiệp và PTNT phối hợp Sở Tài chính và các địa phương tiếp tục thực hiện các bước tiếp theo để giao quản lý, sử dụng công trình theo hướng dẫn của Thông tư 54/2013/TT-BTC Bộ Tài chính.

     

    3. Giao Sở Nông nghiệp thực hiện đề án điều tra, khảo sát và lập đề án nâng cấp, sửa chữa 227 công trình hư hỏng, xuống cấp. Đề án sẽ được Đại sứ quan Úc chấp thuận theo thỏa thuận hỗ trợ số 71668 được ký ngày 22/5/2015 giữa Đại sử quán Úc và Trung tâm nước sinh hoạt và VSMT NT Nghệ An.

     

    Nguồn tin: Trung tâm Nước Sinh hoạt và VSMTNT

 

Nghe nhạc