Trang TTĐT Sở NN&PTNT Nghệ An

thông tin chi tiết

  • Sớm xây dựng nhãn hiệu tập thể “chè Nghệ An”
    07/04/2015 09:53
  • Chè là cây công nghiệp dài ngày có vai trò quan trọng trong nền kinh tế xã hội nước ta. Uống chè từ lâu đã trở thành nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày, một tập quán mang nét văn hoá đặc trưng của người Việt Nam. Việc phát triển cây chè một mặt tạo công ăn việc làm cho một lượng lớn lao động ở các vùng nông thôn, miền núi, đem lại thu nhập cho họ, mặt khác tạo ra sản phẩm chè hàng hoá, mang giá trị xuất khẩu.
  • Thiên nhiên ưu ái cho Nghệ An chất đất và khí trời phù hợp cho cây chè sinh trưởng. Nếu như trước đây, người dân xứ nghệ chỉ trồng chè cho kín vườn, xanh đồi, thu nhập từ chè chỉ được coi là "thu nhập phụ", thì nay cây chè đã có một vị thế khác hẳn. Hiện nay, cây chè đã được xác định là một trong mười cây công nghiệp chủ lực của Nghệ An, có lợi thế trong nền kinh tế thị trường, là một trong những mặt hàng chủ lực tham gia xuất khẩu đem lại ngoại tệ mạnh cho tỉnh, là cây xoá đói giảm nghèo và làm giàu của nông dân. Ngoài ý nghĩa kinh tế, cây chè còn có vai trò che phủ đất trống đồi núi trọc và bảo vệ môi trường sinh thái, một trong những vấn đề nhiều quốc gia quan tâm.

     

    Chỉ tính riêng năm 2011, Nghệ An đã xuất khẩu trên 10.000 tấn chè búp khô, đạt kim ngạch 13 triệu USD, chiếm 5,9% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của tỉnh với thị trường chính tại các nước Trung Đông, EU, ASEAN, Mỹ, Nga, Đài Loan,...

     

    Tính đến tháng 12/2012 tổng diện tích trồng chè toàn tỉnh ước đạt 7.500 ha (diện tích chè kinh doanh là 5.300 ha, chiếm 70 %; diện tích chè kiến thiết cơ bản là 2.200 ha, chiếm 30%. Năng suất chè búp tươi đạt bình quân 105 tạ/ha, sản lượng đạt 55.650 tấn chè búp tươi), đượctrồng chủ yếu tại các huyện Anh Sơn, Thanh Chương, Quỳ Hợp, Kỳ Sơn và Con Cuông, trong đó tại huyện Anh Sơn và Thanh Chương có diện tích trồng lớn nhất.

     

    Đến nay trên địa bàn toàn tỉnh đã có tới 68 doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, chế biến chè. trong đó có đến 60 cơ sở sản xuất, chế biến chè thủ công có công suất từ 0,5 tấn – 10 tấn/ngày và tập trung nhiều nhất ở huyện Thanh Chương với 54 lò, các huyện còn lại Anh Sơn 04 lò, Con Cuông 02 lò. Tổng công suất chế biến là 380 tấn búp tươi/ ngày. Diện tích trồng chè lớn, số cơ sở sản xuất, chế biến chè nhiều; thế nhưng đến nay cũng chỉ mới có 10ha chè được cấp giấy chứng nhận sản xuất chè theo hướng VietGAP và 02 đơn vị được công nhận đạt tiêu chuẩn HACCP trong chế biến chè, như thế là quá ít và vẫn còn manh mún. Do thói quen và tập quán canh tác, người dân vùng chè vẫn chỉ sản xuất chè chủ yếu dựa vào kinh nghiệm đúc được rút từ bao đời nay và cho đến nay sản phẩm chè Nghệ An vẫn chưa có một bảo chứng nào để người tiêu dùng trong và ngoài nước tin cậy.

     

    Theo định hướng đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030 của tỉnh Nghệ An thì cây chè vẫn được xác định là cây mũi nhọn để phát triển kinh tế. Chi cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản tiếp tục triển khai kiểm tra, giám sát các cơ sở sản xuất, chế biến chè thường xuyên theo quy định tại Thông tư số 45/2014/TT-BNNPTNT hướng dẫn các doanh nghiệp đi vào nề nếp, thực hiện đúng các quy định; quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm ngành chè theo chuỗi từ khâu sản xuất đồng ruộng đến chế biến, tiêu thụ. Trong những năm vừa qua Chi cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản Nghệ An đã phối hợp với Cục Chế biến, Thương mại nông lâm thủy sản và nghề muối thực hiện việc kiểm tra, giám sát điều kiện đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm trong quá trình sản xuất, chế biến chè trên địa bàn tỉnh. Nếu như trong nhưng năm đầu việc kiểm tra, giám sát của Chi cục Quản lý Chất lượng còn gặp nhiều khó khăn do tư tưởng, ý thức của một bộ phận người dân còn hạn chế thì từ  năm 2013 đến nay sau rất nhiều nỗ lực tuyên truyền phổ biến kiến thức về Vệ sinh an toàn thực phẩm đối với sản xuất, chế biến chè nói riêng và các mặt hàng nông lâm thủy sản nói chung, người dân đã nghiêm chỉnh chấp hành, tuân thủ các quy định của pháp luật cũng như ý thức giữ gìn vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất, chế biến đã được nâng cao. Các cơ sở sản xuất, chế biến chèđã đầu tư,cải tiến thiết bịkhông chỉ nhằm chú trọng vào nâng cao sản lượng mà sản phẩm còn phải đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Đến nay đã có 51/68 cơ sở được kiểm tra và cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất, chế biến chè theo quy định tại Thông tư số 45/2014/TT-BNNPTNT. Có thể nói đây là một bước tiến dài trong công tác quản lý chất lượng sản xuất, chế biến chè trên địa bàn Tỉnh.

     

    Bên cạnh đó yêu cầu đặt ra với các cơ quan chức năng, với cộng đồng người dân Nghệ An nói chung và các cơ sở sản xuất, kinh doanh chè nói riêng là phải xây dựng một cơ chế quản lý chất lượng sản phẩm, đăng ký bảo hộ nhãn hiệu chè Nghệ An và thành lập một tổ chức tập thể để cùng nhau gìn giữ, bảo vệ giá trị văn hóa của tỉnh nhà, cũng như khai thác giá trị kinh tế của sản phẩm chè một cách phù hợp và hiệu quả cao. Vì vậy, việc sớm thực hiện xây dựng và phát triển nhãn hiệu tập thể "chè Nghệ An" dùng cho sản phẩm chè của tỉnh Nghệ An sẽ là một trong những điều kiện hết sức thuận lợi để khẳng định uy tín đối với khách hàng, khẳng định danh tiếng, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường cho sản phẩm chè và đem lại giá trị lợi nhuận cao cho người sản xuất. 

     

    Chi cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản Nghệ An (được dăng trên báo Nông nghiệp Việt Nam báo số 65 ngày 1/4/2015 )

 

Nghe nhạc