Trang TTĐT Sở NN&PTNT Nghệ An

thông tin chi tiết

  • Biện pháp nâng cao giá trị gia tăng của rừng
    09/01/2015 09:56
  • Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Rừng là vàng, nếu biết bảo vệ xây dựng thì rừng rất quý”. Rừng gắn bó trực tiếp với sự sống của một bộ phận người dân miền núi và ảnh hưởng gián tiếp tới tất cả mọi người qua vai trò cung cấp, phòng hộ và an ninh quốc phòng.
  • Rừng và đất rừng càng có giá trị khi các sản phẩm trong đó mang lại giá trị cao. Trong khoảng thời gian 14 năm (từ năm 2000 đến 2014) Nghệ An cũng như cả nước thực hiện chủ trương phát triển rừng sản xuất với loài cây chủ lực là keo lai và bạch đàn lai. Đây là hai loài cây lâm nghiệp mọc nhanh, sớm cho sản phẩm mang lại thu nhập cho người trồng rừng góp phần ổn định cuộc sống trong thời gian qua. Tuy nhiên các hộ gia đình giàu lên từ trồng rừng keo lai và bạch đàn không nhiều bởi doanh thu từ một chu kỳ trồng đạt từ 50 - 70 triệu đồng/ ha /7-8 năm (chưa trừ chi phí đầu tư) tùy theo chất đất và biện pháp thâm canh, giá cả thời điểm. Trong khi đó một số loại cây trồng khác có thể cho thu nhập mỗi năm hàng trăm triệu đồng/ha như cây cam, cao su, cà phê, tiêu, thanh long… Nguyên nhân thu nhập từ sản xuất trên đất lâm nghiệp thấp do hấu hết đất lâm nghiệp khó canh tác bởi độ dốc lớn, thành phần cơ giới nghèo dinh dưỡng, độ ẩm đất thấp, giao thông không thuận lợi …, đất trồng rừng thường không thể trồng được loài cây gì khác.

     

    Để nâng cao giá trị gia tăng của rừng và đất rừng theo Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT phê duyệt tại quyết định 1565/QĐ-BNN-TCLN ngày 08/7/2013 đòi hỏi chúng ta phải thay đổi cách làm từ tư duy đến hành động, thay đổi biện pháp tác động trong ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để lựa chọn chọn giống cây trồng, thâm canh tăng năng suất để mang lại hiệu quả cao. Tham khảo bảng giá tối thiểu để tính thuế tài nguyên tại quyết định 23/2013/QĐ-UBND ngày 23/4/2013 của UBND tỉnh Nghệ An ta thấy: Gỗ của cây lâm nghiệp bản địa nhóm I có giá bình quân 8 triệu đồng/m3 (riêng gỗ Đinh hương 16 triệu đồng/m3, gỗ Trắc 25 triệu đồng/m3), gỗ nhóm II có giá 5 triệu đồng/m3 (riêng gỗ Lim 8 triệu đồng/m3), gỗ nhóm III (Dỗi, Sang lẻ, Trường mật, Dạ hương…) có giá 3,5 triệu đồng/m3, gỗ nhóm IV (De, Vàng tâm, Tía…) giá 2,8 triệu đồng/m3… và gỗ nhóm VIII (nhóm thấp nhất trong các loại cây bản địa) có giá 1,2 triệu đồng/m3.  Đối với gỗ keo lai (thuộc nhóm gỗ làm giấy) có giá  400.000đồng/m3 (bốn trăm ngàn). Qua so sánh cho thấy: Về hiệu quả kinh tế: Nếu trồng cây bản địa nhóm III, IV có chu kỳ kinh doanh 20-25 năm (bằng 3 chu kỳ keo lai) sẽ có lợi gấp 2- 3 lần thu hoạch 3 chu kỳ keo lai. (ước tính năng suất 100 m3/ha/chu kỳ cho keo lai và cây bản địa); Về giá trị môi trường: Diện tích trồng rừng cây bản địa trong suốt 25 năm đất được che phủ liên tục bởi lớp thảm thực vật và tán cây rừng, hệ sinh thái rừng phát triển ổn định, chi phí trồng chỉ mất một lần, còn rừng trồng keo lai phải đầu tư chi phí trồng rừng 3 lần, lớp thực vật che phủ đất bị gián đoạn qua 2 lần khai thác trắng tương đương 4- 5 năm, điều này không chỉ đất bị xói mòn rửa trôi mà còn ảnh hưởng đến bể chứa và hấp thụ CO2 (yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến Biến đổi khí hậu); ngoài ra trồng cây bản địa còn có ý nghĩa trong việc bảo tồn lưu giữ nguồn gen và đa dạng sinh học, điều này có giá trị không chỉ trước mắt mà còn lâu dài đối với Quốc gia.

     

    Từ phép tính thực tế trên có thể khẳng định trồng cây bản địa, cây gỗ lớn, cây đa tác dụng dài ngày có lợi ích kép so với trồng rừng Keo lai. Khó khăn lớn nhất trong việc trồng cây dài ngày là phải chờ đợi thời gian thu sản phẩm rất lâu nên người sản xuất sẽ không có thu nhập từ rừng trồng trong một thời gian dài. Việc này quá khó với người nghèo không có vốn hoặc phải vay vốn ngân hàng, vì vậy rất ít hộ gia đình đầu tư trồng cây bản địa. Mặc dầu Nhà nước đã có chính sách phát triển rừng sản xuất tại Quyết định 147/2007/QĐ-TTg và Quyết định 66/2011/QĐ-TTg, Thông tư hướng dẫn 03/2012/TTLT-BKHĐT- BNNPTNT- BTC, theo đó trồng rừng sản xuất và trồng cây phân tán được hỗ trợ tối đa 2,25 triệu đồng/ha cho việc mua giống và một phần phân bón; (riêng ở các xã đặc biệt khó khăn, biên giới, tái định cư được hỗ trợ tương ứng mức 3 triệu, 4,5 triệu, 6 triệu đồng/ha; thuộc các đối tượng này nếu trồng cây gỗ lớn (trên 10 năm) hoặc cây bản địa được hỗ trợ tăng thêm 1,5 triệu đồng/ha. Để nhận được tiền hỗ trợ chủ rừng phải đáp ứng yêu cầu: Đất trồng cây phải trong vùng quy hoạch thuộc dự án trồng rừng sản xuất đã được UBND tỉnh phê duyệt, đồng thời diện tích trồng rừng hàng năm được phê duyệt kế hoạch, giống cây phải lấy từ nguồn giống đã được công nhận, có chứng chỉ theo các qui định tại Quy chế quản lý giống cây trồng lâm nghiệp do Bộ NNPTNT ban hành (Quyết định 89/2005/QĐ-BNN).  

     

    Các chính sách của Nhà nước là động lực lớn để bảo vệ, phát triển rừng trong những năm qua; song chính sách đó chưa đủ để tháo gỡ được khó khăn của người sản xuất khi trồng một loài cây lâm nghiệp sau vài chục năm, thậm chí sau năm bảy chục năm mới có sản phẩm.

     

    Rừng Sang lẻ tại xã Tam Đình - Tương Dương- Nghệ An

     

    Thiết nghĩ rằng để phát triển trồng cây bản địa, cây gỗ lớn trên diện tích rừng sản xuất rất cần Nhà nước có quyết sách phù hợp hơn đối với trồng cây lâm nghiệp lâu năm nhằm tạo nên tính bền vững trong ngành lâm nghiệp. Trên cơ sở “Đề án tái cơ câu ngành lâm nghiệp” do Bộ Nông nghiệp PTNT phê duyệt tại quyết định số 1565/QĐ-BNN-TCLN ngày 08 tháng 7 năm 2013, với vai trò cán bộ chuyên môn tác giả bài viết xin đề xuất chính quyền các cấp, ngành Nông nghiệp PTNT và các ngành liên quan quan tâm một số vấn đề tạo điều kiện phát triển diện tích trồng cây bản địa, cây gỗ lớn tại các địa phương như sau:

     

    1- Công tác qui hoạch, kế hoạch: Rà soát, bổ sung qui hoạch đối với rừng sản xuất một diện tích phù hợp để trồng cây bản địa, cây gỗ lớn; xây dựng nhiệm vụ, chỉ tiêu, kế hoạch trồng cây bản địa, gỗ lớn hàng năm và nghiêm túc chỉ đạo thực hiện quy hoạch, kế hoạch. 

     

    2- Về giống cây bản địa: Thực hiện các chủ trương đã có của Chính phủ  và UBND tỉnh, sớm xây dựng rừng giống cây bản địa, trước mắt tiến hành tuyển chọn và chuyển hóa các rừng giống phù hợp tại địa phương và cấp chứng chỉ, tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất kinh doanh giống và người trồng rừng có giống đảm bảo chất lượng và thực hiện đúng quy định quản lý của nhà nước.

     

    3- Về chính sách: Ngoài chính sách phát triển rừng sản xuất đã có, cần bổ sung chính sách hỗ trợ tăng thêm đối với tất cả các vùng trồng cây bản địa, cây gỗ lớn theo từng nhóm chu kỳ kinh doanh cây trồng để giảm bớt khó khăn và khuyến khích người sản xuất. 

     

    4- Về tuyên truyền: Tuyên truyền về lợi ích kép của cây bản địa, cây gỗ lớn, tuyên truyền về chủ trương chính sách của Nhà nước và nhiệm vụ của các cấp, ngành và nhân dân đối với trồng và bảo vệ cây bản địa trên các kênh thông tin đại chúng.

     

    5- Về Khuyến nông khuyến lâm: Tăng cường tập huấn, đào tạo, hướng dẫn người sản xuất kiến thức tổng hợp để lựa chọn phương thức sản xuất phù hợp với điều kiện hiện có nhằm mang lại hiệu quả cao nhất, canh tác nông lâm kết hợp bằng trồng cây bản địa, cây gỗ lớn xen cây nguyên liệu giấy, cây hàng năm, chăn nuôi và dịch vụ để lấy ngắn nuôi dài đồng thời hướng dẫn nông dân lập kế hoạch sản xuất nông hộ và hạch toán với các dòng sản phẩm ngắn hạn, trung hạn, dài hạn để phát triển sản xuất theo hướng an toàn, bền vững. 

     

    Sinh thời Bác Hồ của chúng ta luôn luôn quan tâm đến việc trồng cây, Người căn dặn : “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Trồng cây lâm nghiệp không chỉ mất một vài năm mà rất nhiều năm, vì vậy đòi hỏi chúng ta phải thật sáng suốt trước khi quyết định trồng cây gì để mang lại lợi ích nhiều nhất cho gia đình và xã hội ./. 

     

    Nguồn tin: Nguyễn Thị Hà - Trung tâm Khuyến Nông Nghệ An

 

Nghe nhạc