Trang TTĐT Sở NN&PTNT Nghệ An

thông tin chi tiết

  • Những thành công ban đầu của nuôi trồng thủy sản Nghệ An năm 2014
    12/12/2014 11:13
  • Bước vào năm 2014 với nhiều thách thức doThời tiết, khí hậu diễn biến phức tạp,Cơ sở hạ tầng phục vụ cho nuôi trồng thủy sản (NTTS) không đồng bộ dẫn đến môi trường ô nhiễm, việc kiểm soát nguồn bệnh gặp nhiều khó khăn, giá đầu vào như: con giống, vật tư, thức ăn, thuốc… tăng cao, bệnh trên tôm nuôi thương phẩm xẩy ra thường xuyên, mặt khác đầu ra sản phẩm đối với các đối tượng nuôi nước ngọt ở mức thấp và chưa ổn định đã ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sản xuất.
  •  

     

    Mặc dù gặp nhiều khó khăn, song được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát và phối kết hợp giữa các ngành, các đơn vị và chính quyền địa phương cùng với sự chủ động sáng tạo của những người nuôi nên nhìn chung các chỉ tiêu kế hoạch trong năm 2014 đạt khá. Diện tích, sản lượng đều đạt và vượt mức so với kế hoạch đề ra.

     

    Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản năm 2014 đạt 44.443 tấn, bằng 102% kế hoạch (KH) và bằng 106% so với năm 2013. Trong đó: Sản lượng nuôi ngọt đạt 34.593 tấn bằng 100% KH, bằng 104% so  với năm 2013; Sản lượng nuôi mặn lợ đạt 9.850 tấn bằng 109% KH, bằng 109% so với năm 2013 (trong đó tôm 6.000 tấn).

     

    Diện tích nuôi trồng thuỷ sản đạt 23.610 ha, bằng 112% KH và bằng 101% so năm 2013. Trong đó: Diện tích nuôi cá nước ngọt đạt  21.000 ha, bằng 111% KH và bằng 100% so năm 2013; Diện tích nuôi mặn lợ đạt 2.610 ha, bằng 131% KH và bằng 107% so năm 2013.

     

    Sản xuất cá bột các loài năm 2014 đạt 500 triệu con, bằng 100% KH và bằng 100% so năm 2013; Giống cá Rô phi đạt 20 triệu con bằng 100% KH và bằng 100% so với năm 2013; Sản xuất, kinh doanh tôm giống toàn tỉnh có 19 cơ sở với 57 trại sản xuất và ương nuôi tôm giống đạt 1.200 triệu con, bằng 114% KH và bằng 97% so năm 2013 (số lượng giống tôm sú 205 triệu con, tôm thẻ chân trắng 995 triệu con). Bên cạnh đó thì các mô hình trình diễn do Trung tâm Khuyến nông chỉ đạo thực hiện cũng đạt kết quả cao. Mô hình Ương nuôi cá giống cấp 2 tại các huyện miền núi năng suất bình quân đạt 3,5 tấn/ha, lợi nhuận mang lại từ 140 triệu đến 200 triệu đồng/ha/năm; mô hình nuôi tôm thẻ theo hướng VietGAP, tôm thẻ bằng phương pháp sục khí đáy, mô hình nuôi cua thương phẩm cũng đạt kết quả tốt và thực sự trở thành những điểm trình diễn tin cậy cho nông dân, đưa tổng giá trị sản xuất năm 2014 đạt khoảng đạt 1.955 tỷ đồng.

     

    Có được kết quả trên đầu tiên phải kể đến công tác kiểm tra, kiểm soát đầu vào, đầu ra thực hiện nghiêm túc. Tôm bố mẹ trước khi sản xuất được kiểm tra các tiêu chuẩn về kích cỡ, mầm bệnh, con giống trước khi xuất bán cũng được kiểm tra các chỉ tiêu về các mầm bệnh theo quy định của Bộ Nông nghiệp &PTNT. Mặt khác nhằm đa dạng hoá loài nuôi, Tỉnh có thêm 15 cơ sởđưa vào sản xuất cua giống đạt trên 18triệu convà sản xuấtgiống cá biển đạt hơn 64 vạn con… góp phần cung cấp nguồn giống tại chỗ các đối tượng nuôi mặn lợ trên địa bàn và ngoài tỉnh.Năm 2014, thực hiện chính sách hỗ trợ bảo vệ quỹ gen, giống gốc và phát triển nguồn lợi thủy sản hàng năm, Trung tâm giống thủy sản Nghệ An đã tuyển chọn từ Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 1 các giống cá có chất lượng và phù hợp với nhu cầu của tỉnh như Rô phi dòng GIFT, Chép V1về ương nuôi và cung ứng cho một số đơn vị sản xuất giống: Công ty CP Giống và NTTS, cơ sở Nguyễn Cao Khương (Thanh Chương) nhằm thay thế dần đàn cá bố mẹ, nhờ đó mà chất lượng đàn cá giống cũng dần được cải thiện.

     

    Đối với  nuôi tôm nước lợ, năm nay các địa phương đã triển khai đúng theo lịch mùa vụ của ngành thông báo, năng suất nuôi tôm thẻ chân trắng bình quân 3,7 tấn/ha; Năng suất tôm sú bình quân đạt 0,7 tấn/ha, vùng nuôi phường Quỳnh Dị, TX Hoàng Mai đạt năng suất cao 8 tấn/ha.Đã xuất hiện nhiềuđiển hình như: Hội Ông Ngô Xuân Đại, xã Diễn Trung, huyện Diễn Châu là hộ nuôi đã được chứng nhận nuôi tôm áp dụng quy phạm VietGAP từ năm 2013, vụ 1 năm nay gia đình ông có 4ha diện tích nuôi tôm, thả con giống của công ty CP, sản lượng thu hoạch đạt 27 tấn, năng suất 6,8 tấn/ha, kích cỡ thu hoạch từ 60-70 con/kg, giá bán trung bình 160-170.000 đồng/kg, doanh thu  đạt 4,3 tỷ đồng, sau khi trừ chi phí vụ 1, hộ ông lãi ròng hơn 2 tỷ đồng. Hộ nuôi Nguyễn Cường, Diễn Trung, Diễn Châu, năm 2014 gia đình anh bắt đầu thực hành nuôi tôm áp dụng theo quy phạm VietGAP trên diện tích 0,4 ha, thả giống của công ty Việt Úc, sản lượng thu hoạch được 4,3 tấn, năng suất 11 tấn/ha, kích cỡ thu hoạch 92 con/kg, giá bán 130.000 đồng/kg, doanh thu đạt 565 triệu đồng, sau khi trừ chi phí, hộ gia đình ông lãi hơn 250 triệu đồng,  hộ Ông Nguyễn Hồng Cương, phường Quỳnh Dị, TX Hoàng Mai ...

     

     Nuôi trồng thủy sản nước ngọt, đối tượng nuôi chủ yếu là các loài cá truyền thống như: cá Mè, Trắm, Trôi, Chép,… Ngoài ra, một số địa phương (Cửa Lò, Diễn Châu, Hưng Nguyên, Đô Lương, Yên Thành, Anh Sơn, Nam Đàn) đang phát triển nuôi một số đối tượng có giá trị kinh tế cao như: lươn, cá lóc đen, cá rô đầu vuông, cá điêu hồng, ba ba, ếch… hình thức nuôi chủ yếu là quảng canh cải tiến và bán thâm canh với mức đầu tư thấp,bên cạnh đó phong trào nuôi cá lúa cũng đang phát triển mạnh ở một số địa phương như Thanh Chương, Diễn Châu, Nam Đàn, Hưng Nguyên góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích. Phong trào nuôi cá lồng bè trên sông suối, hồ đập tiếp tục phát triển, tập trung chủ yếu ở các huyện miền núi và trung du, số lượng lồng nuôi tăng lên đáng kể từ 352 lồng năm 2013 hiện tại đã tăng lên 463 lồng nuôi.Đặc biệt huyện miền núi Tương Dương, số lượng lồng nuôi tăng lên đáng kể từ 37 lồng năm 2013 hiện tại đã tăng lên 114 lồng nuôi, Quế Phong từ 125 lồng nuôi lên 150 lồng… có được kết quả đó là do thời gian gần đây người dân đã và đang dần tiếp cận với hình thức lồng nuôi công nghệ mới, chi phí thấp, dễ chăm sóc, quản lý cùng với đó là sự hỗ trợ đóng mới lồng bè của UBND tỉnh và chính quyền địa phương đã tạo tâm lý cho người nuôi yên tâm tiếp tục đầu tư sản xuất.

     

    Năm 2014 mặc dù đã có những thành công nhất định, tuy nhiên nuôi trồng thủy sản nước ngọt vẫnchưa tương xướng với tiềm năng, đặc biệt ở các hồ thủy điện, hồ chứa thủy lợi,đối tượng nuôi chủ yếu là các loài cá truyền thống, những loài nuôicó giá trị kinh tế thấp. Do thiếu vốn đầu tư hệ thống công trình nuôi và chưa tìm được thị trường tiêu thụ, mặt khác các đối nuôi có giá trị kinh tế như cá chình, cá leo, cá lăng, cá ghé,trên địa bàn hiện nay chưa chủ động sản xuất giống; những năm gần đây, mặc dù được hỗ trợ bổ sung nguồn cá quỹ gen nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu ở các cơ sở sản xuất giống nên vẫn còn tình trạng đưa đàn cá bố mẹ đã sinh sản nhiều năm vào tham gia sản xuất, dẫn tới chất lượng con giống chưa tốt. Nuôi thủy sản mặn lợ năm nay vào đầu vụ tình hình thời tiết, khí hậu diễn biến phức tạp, trong thời gian nuôi thời tiết nắng nóng xuất hiện cơn mưa làm môi trường ao nuôi biến động lớn, gây phát sinh bệnh, nhiều vùng nuôi không sử dụng ao chứa lắng, xử lý nước trước khi lấy vào ao nuôi; người dân tự ý hút chất thải trong ao nuôi tôm thải ra môi trường bên ngoài, hệ thống kênh cấp nước đã bị bồi lắng nên rất khó khăn trong công tác lấy nước, ảnh hưởng đến mùa vụ sản xuất, và chất lượng nước kém làm nguy cơ lây lan dịch bệnh ngày càng cao. Bên cạnh đó nhiều hộ nuôi vẫn đang đồng ý cho các Công ty, cơ sở cung ứng tôm giống thả giống trực tiếp xuống ao đầm không qua ương gièo, kiểm định chất lượng và kích cỡ tôm giống chưa đạt tiêu chuẩn quy định ≥ P12, một số hộ nuôi chưa tuân thủ trong công tác phòng bệnh và dập dịch việc  khử trùng tiêu độc trước và sau khi ra vùng nuôi, chưa thực hiện nghiêm túc công tác khai báo bệnh, khi có bệnh xảy ra một số địa phương chưa thực sự quan tâm phối hợp với các cơ quan chuyên ngành để thực hiện công tác phòng chống dập dịch.

     

    Vì thế để nghề NTTS phát triển một cách bền vững thiết nghĩ chúng ta cần có một số giải pháp cụ thể như:

     

     Đối với sản xuất giống: Chủ động sản xuất, cung ứng đủ con giống chủ lực như tôm thẻ chân trắng, cá rôphi ... Tăng cường công tác quản lý kiểm tra, giám sát chặt chẽ tôm giống, cá giống cả về chất lượng và số lượng nhằm phục vụ tốtcho nuôi thương phẩm.

     

    Nuôi trồng mặn lợ, bên cạnh việc ổn định diện tích, năng suất, sản lượngnuôi và xác định Tôm thẻ chân trắng vẫn là đối tượng nuôi chính thì cũng cần phát triển đa dạng hóa một số đối tượng nuôi mới có giá trị kinh tế cao, áp dụng hình thức nuôi luân canh, xen canh đặc biệt là đối với những vùng nuôi tôm kém hiệu quả, khuyến khích phát triển nuôi cá lồng biển, lồng cửa sông.

    Đối với nuôi trong môi trường nước ngọt cần tập trung đẩy mạnh phát triển đa dạng các hình thức nuôi, cá trong ao, nuôi trong bể, nuôi cá ruông lúa và đặc biệt là nuôi cá lồng trên sông, hồ đập nhằm tạo vùng nguyên liệu tập trung hường tới xuất khẩu, bên cạnh đó cần nhân rộng một số mô hình nuôi đối tượng có giá trị kinh tế cao đã thành công như: Cá leo, cá lăng, cá chình …

     

     Về công nghệ cần đẩy mạnh việc áp dụng theo quy phạm nuôi trồng thủy sản tốt VietGAP, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới thông qua việc đánh giá các mô hình khuyến nông như: Nuôi tôm trong nhà, nuôi cá trắm đen bằng thức ăn công nghiệp, nuôi lươn không bùn ….nhằm tăng năng suất, sản lượng và hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích.

     

    Thu hoạch tôm tại mô hình anh Lê Anh Tuấn – xã Nghi hợp-huyện Nghi lộc

     

    Bài và ảnh: Trần Trung Thành   

 

Nghe nhạc