Trang TTĐT Sở NN&PTNT Nghệ An

thông tin chi tiết

  • Hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) từ nghiên cứu đến ứng dụng diện rộng ở Nghệ An
    26/08/2014 11:23
  • Trong sản xuất lúa hiện nay việc đầu tư phân đạm quá mức và cấy dày còn rất phổ biến, đây là nguyên nhân chính làm giảm khả năng chống chịu của cây lúa, từ đó dễ bị sâu bệnh tấn công, gây hại, ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả kinh tế. Sử dụng hóa chất nhiều (phân hóa học, thuốc trừ sâu) gây ô nhiễm môi trường,...
  • Nhằm góp phần tìm ra giải pháp khắc phục tình trạng nêu trên, trong những năm gần đây nhiều chương trình và tiến bộ kỹ thuật được đưa vào ứng dụng trong sản xuất lúa, trong đó có chương trình ứng dụng Hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI). Bài viết này chúng tôi gửi tới cán bộ và bà con nông dân một số thông tin về chương trình, kết quả ứng dụng ở Nghệ An và một số đề xuất cho việc mở rộng ứng dụng (SRI).

     

    1. Vài nét về Hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI)

     

    Hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI - System of Rice Intensification) được Fr. Henri de Laulané phát triển ở Mandagascar từ năm 1961 đến 1995 đã giúp nông dân tăng sản lượng trồng trọt lên gấp 2 lần và nông dân ổn định cuộc sống. Ở nước ta SRI được đưa vào ứng dụng tại các tỉnh phía Bắc từ năm 2003 và được Bộ Nông nghiệp &PTNT công nhận là tiến bộ kỹ thuật áp dụng trong sản xuất lúa ở các tỉnh phía Bắctại quyết định số 3062/QĐ-BNN-KHCN ngày 15/10/2007. Hiện nay SRI là hệ thống thâm canh lúa được đưa vào các giải pháp canh tác trong chương trình chống biến đổi khí hậu và phát thải hiệu ứng nhà kính tại Việt Nam.

     

    Đến nay đã có trên 20 tỉnh thành ứng dụng SRI và đều cho hiệu quả vượt trội so với phương pháp canh tác thông thường như: lượng thóc giống giảm từ 50 đến 90%, phân đạm giảm 20 đến 25%, tăng năng suất bình quân 9 đến 15%. Canh tác theo SRI tạo cho tiểu vùng sinh thái đồng ruộng bất lợi cho dịch hại phát triển như bệnh khô vằn, bệnh nghẹt rễ, ốc bươu vàng,…đồng thời tăng khả năng chống chịu sâu, bệnh của cây lúa. Tiền lãi thu được của ruộng áp dụng SRI tăng từ 2-5triệu đồng/ha, giá thành/kg thóc giảm trung bình 342 đến 520 đồng, tiết kiệm được khoảng 1/3 chi phí về thủy lợi.

     

    Ngoài ra, SRI còn làm tăng khả năng chống chịu của cây lúa đối với những yếu tố có liên quan đến tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu như: Cây lúa cứng, khỏe hơn nên ít bị đổ ngả trong điều kiện mưa bão, đồng thời tăng khả năng chống chịu đối với sâu bệnh mới xuất hiện. Canh tác theo SRI, nhu cầu nước tưới cho ruộng lúa giảm được khoảng 30% so với canh tác truyền thống, điều này rất hữu ích trong điều kiện khan hiếm nguồn nước tưới. Mặt khác, việc rút cạn nước ruộng thường xuyên trên đồng ruộng góp phần làm hạn chế lượng khí nhà kính phát thải vào khí quyển.

     

    Hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) được thực hiện trên 5 nguyên tắc cơ bản sau:

     

    1- Mạ khoẻ: Mạ non, gieo thưa (0,05 - 0,1 kg/m2), bứng mạ để đảm bảo mạ không bị đứt rễ, sau khi bứng mạ phải cấy ngay để tránh bị hỏng.

     

    2- Cấy 1 dảnh, cấy thưa tuỳ theo chất đất, giống, thời vụ, cấy vuông mắt sàng để cây lúa tiếp nhận được ánh sáng đều ở các phía.

     

    3- Phòng trừ cỏ dại kịp thời:làm cỏ sục bùn lần đầu kết hợp với bón phân thúc cho lúa đẻ nhánh thực hiện sớm ngay vào giai đoạn lúa bắt đầu đẻ nhánh.

     

    Chú ý: vào giai đoạn này, có thể chưa thấy cỏ xuất hiện nhưng vẫn phải  sục bùn để vùi hạt cỏ xuống bùn, khống chế chúng nẩy mầm. 

     

    4- Quản lý nước và thông khí định kỳ cho đất: Ruộng chỉ cần đủ độ ẩm trong đất theo yêu cầu của cây lúa mà không cần giữ nước ngập mặt ruộng. Trừ khi bón phân thì mới cần giữ nước ngập mặt ruộng để phân bón dễ hòa tan đều trong ruộng. Sau khi bón phân, cần giữ nước trong ruộng khoảng 4-5 ngày để phân hấp thụ vào đất rồi mới rút cạn nước ruộng. Xới xáo đất nên kết hợp với các lần làm cỏ và bón phân thúc.

     

    Việc xới xáo đất có tác dụng làm giàu khí ô xy cho đất để vi sinh vật trong đất phát triển, khí độc trong đất được thoát ra ngoài nên có thể ngăn ngừa bệnh nghẹt rễ và  tạo điều kiện cho bộ rễ phát triển rộng và sâu.

     

    5- Bổ sung chất hữu cơ: Để cải thiện điều kiện dinh dưỡng đất, tạo điều kiện cho vi sinh vật trong đất phát triển. Chú ý: phân hữu cơ phải được ủ hoai mục mới bón.

     

    * Một số hình ảnh về thực hiện theo quy trình (SRI) ở Nghệ An:

     

     

    Tùy theo điều kiện cụ thể của từng địa phương, ta có thể áp dụng tất cả 5 nguyên tắc kỹ thuật ngay từ vụ đầu, hoặc có thể áp dụng một hoặc một số nguyên tắc, tiến tới áp dụng đầy đủ cả 5 nguyên tắc ở các vụ sau tùy theo khả năng và điều kiện của nông dân.   

     

    2. Kết quả ứng dụng Hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI)ở Nghệ An

     

    Tại Nghệ An, được sự giúp đỡ củaChương trình IPM Quốc gia - Cục Bảo vệ thực vật.Chi cục bảo vệ thực vật đưa (SRI) vào nghiên cứu thử nghiệm từ năm 2008 tại 2 xã Xuân Hòa và Hùng Tiến huyện Nam Đàn với quy mô nghiên cứu 500m2/điểm. Đến năm 2009 kỹ thuật SRI tiếp tục được nghiên cứu trên diện hẹp tại các xã Đà Sơn, Yên Sơn huyện Đô Lương, xã Nam Cát huyện Nam Đàn, xã Diễn Phú huyện Diễn Châu. Các nghiên cứu này đã chứng minh được những lợi ích và hiệu quả vượt trội của SRI so với canh tác truyền thống. Đến năm 2010, 2011 áp dụng vào xây dựng mô hình diện hẹp 1– 2 ha/mô hình tại các vùng nghiên cứu nói trên. Từ năm 2012 đến nay được sự quan tâm chỉ đạo của Sở Nông nghiệp &PTNT, cấp uỷ chính quyền các huyện và đặc biệt là sự ghi nhận về hiệu quả ứng dụng SRI của cấp uỷ chính quyền các xã và bà con nông dân nên diện tích áp dụng SRI đã được thực hiện với quy mô ngày càng lớn tại các huyện như Diễn Châu, Yên Thành, Đô Lương,…Tính đến nay Hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI) đã được ứng dụng trên quy mô hàng ngàn Ha/năm trên địa bàn tỉnh.

     

    Kết quả cụ thể như sau:

     

    - Về công tác huấn luyện đào tạo giảng viên

     

    + Giảng viên cấp huyện:Đến nay đã tổ chức được 5 khóa đào tạo cho 131 giảng viên là cán bộ kỹ thuật thuộc Chi cục BVTV. Sau đào tạo các giảng viên đã nắm vững kỹ thuật cơ bảncủa SRI, cách thức tổ chức nghiên cứu và ứng dụng chương trình SRI, kỹ năng và phương pháp huấn luyện nông dân,…Lực lượng giảng viên này đã thể hiện được vai trò và tầm quan trọng trong việc tuyên truyền và mở rộng diện tích áp dụng SRI trong những năm qua.

     

    - Giảng viên cấp thôn, xã:Để có lực lượng tại chỗ, phục vụ cho việc tuyên truyền và ứng dụng mở rộng diện tích tại địa phương sau khi thực hiện lớp nghiên cứu và mô hình diện hẹp. Chi cục BVTV đã tiến hành huấn luyện, đào tạo giảng viên là nông dân và cán bộ địa phương được 19 lớp cho 200 nông dân trở thành giảng viên. Các giảng viên nông dân cơ bản đáp ứng tốt yêu cầu trong việc tuyên truyền, hướng dẫn và là đội tiên phong trong ứng dụng chương trình tại địa phương, giúp địa phương xây dựng kế hoạch thực hiện và không ngừng mở rộng diện tích ứng dụng.

     

    - Kết quả từ các mô hình nghiên cứu:

     

    Cho đến nay đã tổ chức thực hiện thành công gần 30 lớp nghiên cứu cho khoảng 900 lượt nông dân và cán bộ địa phương tham gia. Qua các lớp nghiên cứu đã lựa chọn được mật độ cấy, chế độ phân bón, chế độ chăm sóc, tưới nước phù hợp cho từng địa phương. Củng cố vững chắc niềm tin của nông dân với tiến bộ khoa học trong chương trình SRI. Các lớp nghiên cứu là cơ sở và tiền đề để xây dựng mô hình ứng dụng trên diện hẹp và mở rộng phạm vi, quy mô áp dụng SRI tại vùng nghiên cứu. Kết quả trên các mô hình của các lớp nghiên cứu đạt được như sau:

     

    + Lượng đạm sử dụng giảm: 0 – 20%; Giảm giống sử dụng: 70 – 80%; Thuốc BVTV: giảm 50 – 100%; Chi phí tưới nước giảm 25 – 50%; Công cấy giảm 25%; Lãi so với canh tác theo tập quán cũ: 2.000.000 – 3.250.000đ/ha.

     

    - Kết quả từ thực hiện mô hình diện hẹp (2ha/mô hình).

     

    Sau khi thực hiện các lớp nghiên cứu, đào tạo nông dân nòng cốt đã tổ chức mô hình ứng dụng trên diện hẹp (2 ha/điểm) ở vụ tiếp theo sau đó là mô hình trên diện rộng theo từng khu đồng, từng thôn, xã.

     

    Kết quả từ các mô hình đã đạt được: Tổng số mô hình thực hiện: 17; Tổng diện tích mô hình: 34 ha; Số nông dân tham gia được tập huấn và thực hiện: 510 nông dân.

     

    Mật độ cấy phổ biến trên mô hình: 25 – 30 khóm/m2.

     

    Hiệu quả kinh tế mô hình: Lượng giống sử dụng 10 – 16kg/ha giảm 73 – 75% so với canh tác theo tập quán (40 – 50kg/ha); Giảm lượng nước tưới 25 – 50%; Lượng đạm giảm 20 – 30%; Giảm số lần sử dụng thuốc BVTV từ 1-2 lần/vụ.

     

    Hiệu quả kinh tế tăng so với làm theo tập quán cũ khi áp dụng SRI toàn phần: 2,5 – 4,7 triệu đồng/ha (trung bình 3,52 triệu đồng/ha).

     

    - Kết quả ứng dụng SRI trên diện rộng:

     

    Thông qua các lớp nghiên cứu, các mô hình ứng dụng và hệ thống giảng viên đã được đào tạo. Đến nay diện tích áp dụng Hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI) trên địa bàn tỉnh bao gồm cả áp dụng toàn phần (tất cảc các khâu kỹ thuật tiến hành theo kỹ thuật của SRI) và diện tích áp dụng từng phần (có một vài khâu kỹ thuật chưa áp dụng được hoàn toàn theo SRI) vào khoảng trên 3.000 ha/năm tập trung tại các huyện như: Yên Thành 893 ha, Diễn Châu 961 ha, Đô Lương 955 ha,….Hiệu quả kinh tế do áp dụng SRI tăng trung bình 2,75 triệu đồng/ha.

     

    Kết quả từ công tác nghiên cứu đến ứng dụng mô hình hiện hẹp và diện rộng đã khẳng định hiệu quả của chương trình (SRI) là rất lớn, được một số địa phương ghi nhận và đang chỉ đạo bà con nông dân ứng dụng mạnh mẽ vào sản xuất. Tuy nhiên so với diện tích lúa của tỉnh được ứng dụng SRI vẫn còn rất khiêm tốn (khoảng 3.000ha/năm). Lý do lớn nhất cản trở đến việc mở rộng diện tích ứng dụng đó là thói quen về canh tác từ trước tới nay thường cấy dày, cấy nhiều dảnh, cấy mạ già hoặc là gieo thẳng, sử dụng nhiều phân đạm, phun thuốc trừ cỏ, để mực nước lớn liên tục trong ruộng lúa,…Trong lúc làm theo SRI thì phải cấy mạ non (2,5-3 lá), cấy thưa chỉ 25-30khóm/m2 và cấy 01dảnh, làm cỏ bằng tay, quản lý nước theo từng giai đoạn, bón phân theo nhu cầu của lúa,…

     

    Vậy để bà con nông dân tin tưởng và có cơ sở để chứng minh hiệu quả của SRI. Các địa phương cần chủ động phối hợp với cơ quan chuyên môn như Chi cục BVTV, Trung tâm Khuyến nông tỉnh,…để triển khai từ mô hình diện hẹp đến diện rộng và có thể lựa chọn hình thức để ứng dụng ngay từng phần hoặc toàn bộ các nguyên tắc cơ bản của SRI trên phạm vi quy mô lớn vào thực tế địa phương. Các bước cơ bản về thực hiện chương trình ứng dụng Hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) bao gồm:

     

    B1: Điều tra cơ bản:Trước khi quyết định lựa chọn vùng nghiên cứu và ứng dụng phải tiến hành điều tra cơ bản về thực trạng sản xuất lúa, kế hoạch sản xuất của địa phương, tập quán canh tác lúa của nông dân. Xác định được những vùng nông dân có tập quán canh tác và trình độ có thể áp dụng các kỹ thuật SRI thuận lợi. Họp dân để bàn và xây dựng chương trình kế hoạch thực hiện cho từng vụ, từng năm và lâu dài.

     

    B2: Đào tạo giảng viên nông dân kết hợp mở lớp nghiên cứu:

     

    * Đào tạo giảng viên nông dân: Để có nguồn nhân lực tại chỗ, tiếp cận và nhân nhanh ứng dụng SRI. Các địa phương phối hợp với các cơ quan chuyên môn (giảng viên đã qua đào tạo chính quy) tổ chức các khoá đào tạo giảng viên cho nông dân.

     

    - Thành phần gồm: Ban nông nghiệp xã, cán bộ hợp tác xã, hội nông dân, khuyến nông viên, xóm trưởng, nông dân tiêu biểu,…

     

    - Nội dung huấn luyện:

     

    + Thực hiện các thí nghiệm về mật độ cấy, liều lượng đạm, liều lượng lân, liều lượng kali, so sánh giống lúa,…(dựa trên tài liệu về SRI).

     

    + Học các chủ đề về hệ sinh thái, chủ đề đặc biệt (sinh lý cây lúa, côn trùng, bệnh cây, mạng lưới thức ăn, ảnh hưởng của thuốc BVTV,…); phương pháp truyền đạt, phương pháp hoạt động nhóm,...(dựa trên tài liệu của chương trình IPM, SRI,…).

     

    + Thực hành huấn luyện nông dân tại các lớp nghiên cứu.

     

    + Tổ chức hội nghị đầu bờ.

     

    + Lập kế hoạch triển khai tại địa phương.

     

    * Mở lớp nghiên cứu:

     

    - Lớp nghiên cứu được tổ chức gồm 30 học viên (thành phần nêu ở trên) với các học viên có trách nhiệm, lòng nhiệt tình, có khả năng truyền đạt, hướng dẫn cho người khác, được đào tạo để trở thành nhóm nông dân nòng cốt. Thời gian học suốt chu kỳ phát triển của cây lúa từ khi gieo đến khi thu hoạch khoảng 14- 16 tuần, mỗi tuần một buổi.

     

    - Vật liệu học tập chính là ruộng thí nghiệm được bố trí gần đường giao thông để tiện cho việc tham quan, học tập và quảng bá mô hình.

     

    - Nội dung huấn luyện: Như ở phần trên và giao cho các nhóm nông dân thực hiện dưới sự hướng dẫn của giảng viên.

     

    + Phương pháp huấn luyện: Giảng viên hướng dẫn cho nông dân thực hành, trao đổi trên đồng ruộng, nông dân sẽ tự học được những thay đổi, khác biệt về sinh trưởng, sâu bệnh hại, thiên địch, năng suất, hiệu quả kinh tế giữa các công thức thí nghiệm và rút ra được công thức có hiệu quả nhất, phù hợp với địa phương qua đó xây dựng lòng tin cho mình để ứng dụng trong gia đình và vận động người khác trong quá trình triển khai, thực hiện. Địa phương thông báo cho nông dân và cán bộ địa phương biết khu vực ruộng thí nghiệm để quan sát, theo dõi diễn biến và kết quả.

     

     Đến trước khi thu hoạch lớp học tổ chức hội nghị đầu bờ, học viên của lớp trình bày lại kết quả cụ thể của thí nghiệm để tuyên truyền cho lãnh đạo địa phương, nông dân. Tại hội nghị giảng viên và học viên sẽ đánh giá lại toàn bộ các nội dung đã thực hiện để đúc rút kinh nghiệm. Sau hội nghị giảng viên và cán bộ địa phương sẽ họp để xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện trong vụ tiếp theo.

     

    B3: Tổ chức xây dựng các mô hình ứng dụng ra diện rộng: Từ kết quả đào tạo giảng viên và mô hình nghiên cứu để triển khai ứng dụng ra diện rộng.

     

    - Lựa chọn ruộng: Chọn khu ruộng chủ động tưới tiêu, gần đường giao thông, nhưng còn bất hợp lý về mật độ cấy, sâu bệnh nhiều.

     

    - Lựa chọn diện tích mô hình ở vụ thứ nhất khoảng 3 - 5 ha, vụ thứ hai khoảng 20 ha, vụ thứ ba khoảng 50 ha.

     

    - Nông dân tham gia mô hình: Là những hộ có ruộng trong khu vực mô hình, nhưng yêu cầu phải có nông dân đã tham gia lớp nghiên cứu, đào tạo giảng viên ở vụ trước, tối thiểu phải có 10 người có ruộng trong khu vực mô hình.

     

    - Tổ chức nhóm nông dân nòng cốt:

     

    + Nhóm nông dân nòng cốt được chọn ra từ lớp nghiên cứu, số lượng khoảng 10- 20 người tùy thuộc vào diện tích mô hình.

     

    + Nhóm nông dân nòng cốt có nhiệm vụ  hướng dẫn, giám sát, kiểm tra việc làm luống, cấy đúng mật độ, đúng 1dảnh/khóm, bón phân, làm cỏ, rút nước, tưới nước và tuyên truyền kết quả đã đạt được ở vụ trước, vận động thực hiện đúng quy trình.

     

    - Tổ chức các hoạt động cho nông dân tham gia mô hình:

     

    + Tập huấn: thời điểm trước khi vào vụ sản xuất, tập hợp toàn bộ nông dân tham gia mô hình. Nội dung tập huấn gồm: Hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI) là gì ?; cơ sở khoa học và thực tiễn của Hệ thống thâm canh lúa cải tiến; các biện pháp cụ thể; phương pháp để nông dân tiếp cận với Hệ thống thâm canh lúa cải tiến.

     

    + In và phát tờ hướng dẫn kỹ thuật thâm canh lúa cải tiến cho nông dân.

     

    + Phát thanh các nội dung về Hệ thống thâm canh lúa cải tiến trên đài truyền thanh của thôn, xã; trọng tâm là thời điểm làm đất, làm mạ, cấy và làm cỏ, bón phân.

     

    + Thăm đồng, học tập: Nông dân tham gia mô hình có 6 buổi gặp gỡ, thăm đồng, thảo luận, đưa ra quyết định, tập hợp tình hình sinh trưởng, sâu bệnh,…

     

    + Tổ chức thăm quan: Lãnh đạo địa phương thông báo cho các ngành, đoàn thể của địa phương và toàn dân biết khu ruộng mô hình, ở đó làm gì, làm như thế nào để mọi người quan sát, theo dõi diễn biến và kết quả từ khi cấy đến khi thu hoạch.

     

    + Tổ chức hội thảo đầu bờ: Trước khi hội nghị đầu bờ, nhóm nông dân nòng cốt tập hợp tình hình sinh trưởng, sâu bệnh, thiên địch, đo đếm các yếu tố cấu thành năng suất, gặt thống kê, hạch toán kinh tế. Thành phần tham dự hội thảo gồm lãnh đạo đảng, chính quyền, HTX, các ngành, đoàn thể, nông dân tham gia mô hình, nông dân chuẩn bị tham gia mô hình vụ tới.

     

    + Thống nhất về chỉ đạo và chính sách: Từ kết quả của mô hình đã xây dựng lòng tin cho một số nông dân, lãnh đạo địa phương về hiệu quả của hệ thống thâm canh lúa cải tiến. Để tiếp tục nhân rộng việc ứng dụng thì lãnh đạo đảng, chính quyền, HTX nông nghiệp thống nhất thành nghị quyết giao cho đảng viên, hội viên (nông dân, phụ nữ, thanh niên…) đồng thời địa phương hỗ trợ cho mô hình ứng dụng tập trung bằng việc trả công hướng dẫn giám sát cho nhóm nòng cốt và hỗ trợ vật tư để khuyến khích nông dân tham gia mô hình.

     

    B4: Tuyên truyền cho nông dân chưa tham gia mô hình

     

    - Tập huấn: Trước khi vụ sản xuất, địa phương tổ chức cho toàn bộ nông dân trong thôn hoặc toàn xã nghe phổ biến về hệ thống thâm canh lúa cải tiến trong thời gian một buổi, đồng thời trao đổi những vấn đề mà nông dân ở đó quan tâm.

     

    - Phát tờ hướng dẫn: Tờ hướng dẫn là cẩm nang rất quan trọng để thí nghiệm hoặc ứng dụng trên ruộng của từng gia đình.

     

    - Truyền thanh: Vào thời điểm làm đất, làm mạ, cấy, chăm sóc: Đài truyền thanh của xã hoặc thôn thông tin liên tục, nhiều lần trong ngày hệ thống thâm canh lúa cải tiến để gợi ý cho nông dân thí nghiệm đồng thời hàng vụ tổng kết các kết quả ứng dụng của các hộ, của đội, của thôn tuyên truyền cho mọi người cùng biết.

     

    3. Một vài đề xuất mở rộng ứng dụng SRI

     

    Hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) được Bộ Nông nghiệp &PTNT công nhận là tiến bộ kỹ thuật áp dụng trong sản xuất lúa ở các tỉnh phía Bắctại quyết định số 3062/QĐ-BNN-KHCN ngày 15/10/2007. Đến nay đã có trên 20 tỉnh thành áp dụng và cho hiệu quả cao vượt trội so với sản xuất theo quy trình hiện tại. Ở Nghệ An SRI được thực hiện có hiệu quả với diện tích ứng dụng từng phần và toàn bộ đến nay có khoảng 3.000ha/năm. SRI là biện pháp kỹ thuật được Sở Nông nghiệp &PTNT và một số địa phương đưa vào đề áp tổ chức sản xuất hàng vụ. Tuy nhiên để diện tích ứng dụng ngày càng được mở rộng, chúng tôi có một số đề xuất sau:

     

    - Sở Nông nghiệp &PTNT bên cạnh việc đưa vào đề án sản xuất hàng vụ cần tăng cường hơn nữa công tác chỉ đạo, tuyên truyền các địa phương đẩy mạnh việc ứng dụng SRI trên diện rộng, đặc biệt các địa phương có điều kiện tốt như Huyện Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Đô Lương,…

     

    - Các địa phương (huyện, xã):

     

    + Chủ động phối hợp và tranh thủ sự giúp đỡ của các cơ quan, ban ngành trong và ngoài tỉnh để đẩy mạnh triển khai ứng dụng SRI vào địa bàn.

     

    + Có chủ trương, nghị quyết, xây dựng kế hoạch ứng dụng SRI trên diện rộng để tập trung chỉ đạo. Đồng thời bố trí một khoản kinh phí hỗ trợ công tác chỉ đạo, tập huấn, khen thưởng cho các cơ quan ban ngành tham gia ứng dụng chương trình, đặc biệt đối với các thôn, xã có diện tích ứng dụng SRI lớn.

     

    + Đối với các địa phương chưa ứng dụng SRI: Phối hợp cơ quan chuyên môn tổ chức thực nghiệm mô hình diện hẹp làm nơi tham quan học tập cho cán bộ và bà con nông dân. Từ đó tổng kết rút kinh nghiệm mở rộng ứng dụng ra diện rộng.

     

    - Các đơn vị chuyên môn (Chi cục BVTV, Trung tâm Khuyến nông tỉnh,…).

     

    + Tranh thủ sự ủng hộ của các cơ quan Trung ương, các tổ chức Quốc tế tạo nguồn kinh phí phục vụ công tác đào tạo giảng viên nông dân, nghiên cứu xây dựng mô hình tại những địa phương chưa ứng dụng SRI và phối hợp với các địa phương đã ứng dụng SRI chỉ đạo ứng dụng trên diện rộng.

     

    + Tiếp tục tổng kết đánh giá quá trình ứng dụng SRI vào Nghệ An về ưu điểm, tồn tại hạn chế, đặc biệt là nguyên nhân tồn tại hại chế để đề xuất giải pháp thực hiện, tham mưu cho lãnh đạo Tỉnh, Sở NN&PTNT, các cấp các ngành và các địa phương chỉ đạo thực hiện chương trình trong thời gian tới phù hợp với điều kiện Nghệ An.

     

    + Tổ chức biên soạn tài liệu về Hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) phù hợp với đặc điểm tình hình Nghệ An làm cơ sở cho các địa phương triển khai. Đồng thời hoàn thiện quy trình (SRI) in thành tờ rơi phát cho nông dân thực hiện.

     

    - Công tác truyền thông:

     

     Các cơ quan chuyên môn, các địa phương phối hợp với Đài phát thanh truyền hình tỉnh, huyện, xã, báo nghệ an, báo nông nghiệp,…thường xuyên tuyên truyền, phổ biến về kỹ thuật SRI và hiệu quả từ việc ứng dụng SRI tại các địa phương trên địa bàn tỉnh để nhân dân biết và áp dụng. 

     

    Nguyễn Đình Hương – Phòng trồng trọt sở NN&PTNT

 

Nghe nhạc