Trang TTĐT Sở NN&PTNT Nghệ An

thông tin chi tiết

  • Cần nghiên cứu bảo tồn và phát triển bền vững cây Bon Bo bản địa thuộc khu dự trữ sinh quyển miền tây Nghệ An
    21/04/2014 15:31
  • Cây riềng Bắc lá to (ApiniaBractea Roxb) tại Nghệ An thường gọi là cây bon bo, cọ cà, mắc cá thuộc họ gừng ( Zinginberaceae), chi riềng ( Alpinia). Ở nghệ An loài cây này phân bố nhiều ở các huyện vùng núi cao, nhất là những vùng rừng thứ sinh nghèo, bìa rừng, ven sông suối có độ tàn che khoảng 30-70%.
  •  Đây là loài cây đa tác dụng, hạt được sử dụng làm thuốc chữa bệnh( thấp khớp, đau lưng, đau tức ngực, đau dạ dày) đọt non được sử dụng chế biến các món ăn. Hạt cây là nguồn dược liệu quý có giá trị thương mại cao. Hiện nay tại các huyện miền núi tỉnh Nghệ An như Kỳ Sơn, Tương Dương,  Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp. . .nguồn thu từ cây bon bo là một phần thu nhập đáng kể của người dân. Theo kết quả điều tra, khảo sát đặc tính sinh thái thu hoạch, bảo quản, sử dụng sản phẩm cây bon bo thuộc họ gừng ( Zingiberaceae)- năm 2012 do trung tâm giống cây trồng Nghệ An thực hiện cho thấy :

    Cây bon bo phân bố khá nhiều trong rừng tự nhiên, trong khoảng 10 năm trở lại đây đến mùa thu hoạch, hạt cây bon bo được thương lái vào tận thôn bản thu mua với giá từ 20.000đ- 30.000đ/ kg hạt khô, mang lại thu nhập cho mỗi xã 200-300 triệu đồng/ năm, tính ra mỗi hộ gia đình thu nhập từ 3-4 triệu đồng, cá biệt có những hộ thu nhập hàng chục triệu đồng. Hiện tại nguồn thu nhập từ cây bon bo là một trong những nguồn thu chính của bà con vùng cao, hơn nữa ở những vùng cao này, cây bon bo đang được đánh giá là loài cây có hiệu quả kinh tế thuộc loại cao nhất cho bà con nông dân. Với những diện tích khoanh nuôi, bảo vệ tập trung mỗi năm cho thu nhập từ 30-60 triệu đồng/ ha /năm.

    Hiện tại các vùng có phân bố bon bo nhiều người dân chỉ biết tận dụng nguồn lợi có sẵn từ thiên nhiên mà chưa có kế hoạch gây trồng. Một số hộ gia đình nhỏ lẻ đã biết khoanh nuôi, bảo vệ ở rừng, vườn đồi của mình một cách tự phát, chưa có quy hoạch, quy mô diện tích manh mún, nhỏ lẻ và mới chỉ tác động ở phạm vi bảo vệ ngăn không cho người, gia súc vào phá hoại, chưa có tác động chăm sóc, trồng bổ sung để nâng cao năng suất.

    Lợi ích, nguồn lợi cây bon bo mang lại cho người đồng bào miền núi là rất lớn, ngoài hiệu quả cao về kinh tế thì với khả năng phát triển tốt dưới tán rừng, phiến lá to, mọng nước, hệ rễ phát triển nên hiệu quả cải tạo môi trường chống xói mòn, rửa trôi đất, chống bạc màu, hoang hóa đất và tác dụng phòng chống cháy rừng của cây bon bo là rất lớn. Ở những khu vực có cây bon bo phát triển nhiều thì tình trạng cháy rừng hầu như không có. Nó góp phần bảo đảm tính đa dạng sinh học bền vững, bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần bảo vệ môi trường toàn cầu.

    Chiến lược bảo tồn và phát triển bền vững trong khu dự trữ sinh quyển thế giới đang là vấn đề rất nan giải hiện nay. Việc hài hòa giữa bảo tồn và phát triển đang là khó khăn hiện nay trong thực tiễn sản xuất. Vì vậy việc tạo sinh kế bền vững cho người dân dựa vào việc bảo tồn, phát  triển cây bon bo, một loại lâm sản ngoài gỗ, đa tác dụng có ý nghĩa vô cùng lớn đối với việc bảo tồn đa dạng sinh học, cải thiện môi sinh, môi trường cho khu dự trữ sinh quyển tây Nghệ An và môi trường chung của thế giới.

     

     

    Cây Bon bo tại huyện Kỳ Sơn, Nghệ An

     

    Qua điều tra cho thấy trong thực tiễn sản xuất, nhất là lĩnh vực nông lâm nghiệp trên địa bàn thì hầu như tất cả các chương trình dự án lâm nghiệp lớn đã và đang triển khai mới chỉ quan tâm đến các loài cây lấy gỗ, cây nguyên liệu như pơ mu, sa mu dầu, các loài keo, bạch đàn, song mây. . .còn đối tượng cây bon bo chưa được quan tâm để triển khai. Ngoài ra một số loài cây đã được quan tâm nghiên cứu để du nhập vào gây trồng như mận tam hoa, hồng Fuju, đào pháp, lê, mít sau một thời gian đã cho thấy tính hiệu quả không cao. Hoặc là không phù hợp về khí hậu, trình độ canh tác của người dân, hoặc là giá cả bấp bênh. Chính vì vậy, qua khảo sát đánh giá, người dân bản địa, cộng đồng địa phương đã khẳng định hiện tại chưa có loài cây trồng nào có tính hiệu quả cao và bền vững như cây bon bo. Tính bền vững ở đây thể hiện ở cách tiếp cận xuất phát từ cộng đồng, từ cây bản địa của địa phương, kỹ thuật chăm sóc dễ dàng, phù hợp với tập quán canh tác của người dân và hơn nữa tính đa tác dụng của nó đã được khẳng định. Cộng đồng dân tộc ở đây rất mong muốn có các chương trình dự án nghiên cứu để bảo tồn, phát triển bền vững nguồn lợi cây bon bo để nâng cao đời sống cho bà con và bảo vệ môi sinh môi trường sinh thái.

    Để bảo tồn và phát triển bền vững cây bon bo Trung tâm giống cây trồng Nghệ An đã xây dựng bản hướng dẫn kỹ thuật trồng mới và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung để hướng dẫn cho người dân như sau:

    * Kỹ thuật trồng rừng bon bo:

              - Thời vụ trồng: Vuh Xuân, Vụ thu

              - Tiêu chuẩn cây giống: Cây giống (khóm cây) tuyển chọn và tách từ gốc cây mẹ, sau khi tách gốc, cây được hồ rễ, bó bầu ổn định trước khi đem trồng. Mỗi khóm cây giống có 2 - 3 chồi, chiều cao cây 0,3 - 0,1m, tuổi cây trên 5 tháng, đường kính gốc 1,0 - 1,5cm. Cây sinh trưởng phát triển tốt, không bị sâu bệnh.

              - Phương thức trồng: Trồng thuần loài.

              - Mật độ trồng: 1.600 cây/ha

              - Cự ly trồng:  Cây cách cây x hàng cách hàng (2,5m x 2,5m).

              - Xử lý thực bì : Phát dọn thực bì  toàn diện trên diện tích trồng cây.

              - Làm đất: Hoàn thành làm đất trước khi trồng 1,0 tháng. Làm đất cục bộ theo hố, kích thước hố dài x rộng x sâu (0,5 x 0,5 x 0,3m).

              - Bón phân: Định lượng bón (1,0 kg phân vi sinh + 0,2 kg NPK(8:6:4))/ hố.

              Trước khi trồng 15 - 20 ngày tiến hành xăm lấp đất 2/3 hố, bón lượng phân trên, đảo đều đất với phân, sau đó lấp đất tơi nhỏ vào đầy hố.

              - Trồng cây: Chọn thời tiết râm mát, đất ẩm sau mưa để trồng cây.

              Cuốc một lỗ giữa hố đặt cây vào chỉnh ngay ngắn, lấp đất lèn vừa chặt. Trồng xong  dùng cỏ khô, lá  khô tủ gốc để giữ  ẩm.

              - Sau khi trồng 15-20 ngày tiến hành kiểm tra trồng dặm, chỉnh sửa cây.

              - Chăm sóc và bảo vệ rừng: Nghiêm cấm chăn thả gia súc trong khu vực trồng, kiểm tra phòng trừ sâu bệnh hại và theo dõi tình hình sinh trưởng của cây trồng.

     

    * Kỹ thuật KNXTTS kết hợp trồng bổ sung:

     

    - Luỗng phát cây bụi, dây leo trên diện tích khoanh nuôi xúc tiến tái sinh cây Bon bo. Giữ lại những cây gỗ có giá trị.

              - Chăm sóc tu bổ khóm cây Bon bo: Số lượng 300khóm/ha. Cắt tỉa cây phẩm chất kém, làm cỏ, xới đất, bón thúc phân, vun gốc.

              -Kỹ thuật bón phân cho khóm cây: Lượng bón 0,2kg NPK(8:6:4) + 1,0kg vi sinh/gốc. Xới đất sâu 10-15cm, rộng 30cm, cách gốc cây 25-30cm về mỗi phía, rải đều lượng phân NPK xung quanh phần đất đã xới, sau đó vun gốc bằng đất mặt tơi nhỏ.

              - Trồng bổ sung cây Bon bo để tăng mật độ làm giàu rừng. Tiêu chuẩn cây giống Bon bo (như cây giống trồng thử nghiệm), số lượng 500 cây/ha. Cây được trồng vào những khoảng trống lớn trên lô. Kỹ thuật trồng, lượng phân bón, kỹ thuật chăm sóc, biện pháp bảo vệ lô rừng KNXTTS (như phần KY trồng thử nghiệm cây Bon bo)

      Tác giả: Võ Văn Sỹ - Trung tâm giống cây trồng Nghệ An

 

Nghe nhạc